- 1. Lịch sử hình thành nguyên tắc suy đoán vô tội
- 2. Ý nghĩa của nguyên tắc suy đoán vô tội và quyền con người
- 3. Pháp luật Việt Nam về nguyên tắc suy đoán vô tội
- 3.1. Quá trình ghi nhân nguyên tắc suy đoán vô tội
- 3.2. Nội dung của nguyên tắc suy đoán vô tội
- 3.3. Thực tiễn thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội
Nội dung được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Dân sự của Công ty luật Minh Khuê
>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự, gọi: 1900 6162
Cơ sở pháp lý:
- Hiến pháp năm 2013
- Bộ luật tố tụng hình sự 2015
1. Lịch sử hình thành nguyên tắc suy đoán vô tội
Suy đoán vô tội là nguyên tắc có tính nền tảng của tố tụng văn minh, vì thiếu nó chúng ta không thể đạt được nền tư pháp công bằng và nhân đạo. Là thành tựu vĩ đại của văn minh pháp lý trong việc bảo vệ quyền con người, suy đoán vô tội được nhiều quốc gia coi là nguyên tắc của tố tụng hình sự
Với ý nghĩa là một giá trị pháp lý tiến bộ, khi cách mạng tư sản thành công, suy đoán vô tội được nêu trong Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp do Quốc hội lập hiến thông qua năm 1789: “Mọi người đều được coi là vô tội cho tới khi người đó bị tuyên bố là có tội, nên khi cần thiết phải bắt giữ, mọi hành vi sử dụng vũ lực quá mức tối thiểu cần thiết để bắt và giam giữ người đó sẽ bị xử lý thích đáng”.
Nguyên tắc suy đoán vô tội từ lâu được biết đến trong tư pháp hình sự của nhiều quốc gia trên thế giới. Đó là một trong những nguyên tắc của tố tụng hình sự có tầm quan trọng đặc biệt đối với việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948 ghi nhận: “Mọi người, nếu bị cáo buộc về hình sự đều có quyền được coi là vô tội cho đến khi được chứng minh là phạm tội theo pháp luật, tại một phiên tòa xét xử công khai. Nơi người đó được bảo đảm những điều kiện cần thiết để bào chữa cho mình” (Điều 11 ). Suy đoán vô tội tiếp tục được khẳng định trong Công ước quốc tế về các quyền dần sự và chính trị năm 1966 (khoản 2 Điều 14): “Người bị cáo buộc là phạm tội hình sự có quyền
được coi là Vô tội cho tới khi hành vi phạm tội của người đó được chứng minh theo pháp luật”.
2. Ý nghĩa của nguyên tắc suy đoán vô tội và quyền con người
Suy đoán vô tội có nội dung quan trọng và trọng tâm là bảo vệ chính sách nhân đạo của pháp luật hình sự và lợi ích của người bị truy cứu trách nhiệm hình sự, phản ánh bản chất nhân văn, nhân đạo của pháp luật dân chủ và pháp quyền nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, loại trừ việc buộc tội và kết án thiếu căn cứ. Do vậy, trong quá trình tiến hành tố tụng các cơ quan tiến hành tố tụng cũng như người tiến hành ta tụng phải nghiêm túc tuân thủ, tôn trọng và chấp hành theo nguyên tắc này để tránh việc) oan sai đối vóỉ những công dân vô tội. Nguyên tắc mở ra một định hướng tích cực hơn và được coi là nguyên tắc "vàng" trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử hiện nay.
Là nguyên tắc, tư tưởng pháp lý tiến bộ và văn minh - thành tựu lớn của khoa học pháp lý trong chứng minh và bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự; suy đoán vô tội là một nguyên tắc có ý nghĩa chính trị to lớn, vượt ra ngoài phạm vi và nội dung pháp lý của nó nhằm ghi nhận địa vị của con người, tự do và dân chủ, ghi nhận mối liên hệ giữa tự do và trách nhiệm, dân chủ và pháp luật trong xã hội. Vì thế, việc ghi nhận cụ thể, đầy đủ nguyên tắc suy đoán vô tội như là nguyên tắc cơ bản là đòi hỏi cấp thiết của Luật tố tụng hình sự trong nhà nước pháp quyền. Suy đoán vô tội được quốc tế thừa nhận như giá trị chung của văn minh nhân loại phải được nghiên cứu và ghi nhận về mặt lập pháp, đã và đang được nhiều quốc gia xác định là nguyên tắc cơ bản của pháp luật tố tụng hình sự.
3. Pháp luật Việt Nam về nguyên tắc suy đoán vô tội
3.1. Quá trình ghi nhân nguyên tắc suy đoán vô tội
Ở Việt Nam, Bộ luật Tố tụng hình sự nám 1988, Hiến pháp năm 1992, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 đã thể hiện tinh thần của nguyên tắc suy đoán vô tội với các quy định: “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”.
Khi Hiến pháp năm 2013 được ban hành, với tư duy pháp lý mới về quyền con người, các nguyên tắc dân chủ của hoạt động tư pháp được bổ sung, phát triển theo tinh thần cải cách tư pháp, nguyên tắc suy đoán vô tội lần đầu tiên được chính thức ghi nhận.
Điều 31 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trinh tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” như một nguyên tắc cơ bản bảo vệ quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự.
Cụ thể hóa Hiến pháp, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 quy định: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” (Điều 14).
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định cụ thể hơn nội dung của nguyên tắc này: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyển tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội” (Điều 13).
Như vậy, pháp luật hiện hành đã chỉ rõ người được hưởng quyền suy đoán vô tội là người bị buộc tội và cũng chỉ rõ suy đoán không phải theo hướng có tội mà theo hướng suy diễn về sự vô tội của người bị buộc tội. Nếu như chủ thể của quyền được suy đoán vô tội là người bị buộc tội, thì chủ thể có nghĩa vụ bảo đảm quyền này không phải ai khác, chính là cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự.
Suy đoán vô tội là thể hiện quan điểm pháp lý tiến bộ, vì con người theo hướng nhân đạo. Quá trình tố tụng hình sự phải kết thúc bằng việc xác định rõ người bị buộc tội có tội hay không có tội. Quyết định áp dụng pháp luật duy nhất phủ định suy đoán vô tội chỉ có thể là bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật do Tòa án - cơ quan thực hiện quyền tư pháp tuyên. Nhìn từ góc độ pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia, nguyên tắc này bảo đảm thái độ tận tâm và thiện chí của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong việc thực hiện các cam kết quốc tế về bảo vệ quyền con người, khi đã nội luật hóa thành công quy định của pháp luật quốc tế vào pháp luật quốc gia.
3.2. Nội dung của nguyên tắc suy đoán vô tội
Nội dung của nguyên tắc suy đoán vô tội gồm các vấn đề sau:
- Người bị buộc tội phải được coi là vô tội cho tới khi hành vi phạm tội và lỗi của họ được các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự chứng minh trên cơ sở xác định đúng đối tượng chứng
minh và giới hạn chứng minh trong vụ án hình sự, theo trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định và đã có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật Nghĩa là chỉ Tòa án - cơ quan thực hiện quyền tư pháp, mới có quyển phán quyết về việc một cá nhân (hay pháp nhân) phạm tội; bất cứ cơ quan, tổ chức nào khác đều không có đặc quyền này.
- Nghĩa vụ chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự, người bị buộc tội có quyển nhưng không buộc phải chứng minh là minh vô tội, họ có thể dùng quyền chứng minh để bảo vệ mình, nhưng không có nghĩa vụ chứng minh vể việc mình không phạm tội. Họ cũng không bị buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội.
- Mọi chứng cứ còn hoài nghi trong vụ án cần được giải thích theo hướng có lợi cho người bị buộc tội. Trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, có thể xảy ra những tình huống mà thông tin, chứng cứ về các sự kiện, tình tiết cụ thể của vụ án liên quan đến lỗi của người bị buộc tội không rõ ràng trong việc xác định cơ sở của trách nhiệm hình sự, cụ thể là cơ sở để xác định các yếu tổ cấu thành tội phạm có những mâu thuẫn nên không thể kết luận, khẳng định một cách dứt khoát vể sự kiện, tình tiết đó. Trong quá trình chứng minh, các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải làm rõ những nghi ngờ này. Trong trường hợp không thể làm rõ thi các chứng cứ chưa rõ ràng cần được giải thích theo hướng có lợi cho người bị buộc tội.
- Trường hợp các cơ quan và những người tiến hành tố tụng hình sự đâ cố gắng hết sức với tất cả các phương tiện pháp lý cần thiết nhưng vẫn không thể làm rõ toàn bộ các tình tiết của vụ án, không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định, để bảo đảm quyển của người bị buộc tội thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội. Như vậy, trong trường hợp này, có thể suy ra một định thức là “nếu không chứng minh được người bị buộc tội đã phạm tội, nghĩa là đã chứng minh được họ không có tội”.
3.3. Thực tiễn thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội
Nguyên tắc suy đoán vô tội trong thực tiễn là “lá chắn” quan trọng bảo vệ quyền của những người được coi là “yếu thế’ trong tố tụng hình sự. Dưới tác động của cải cách tư pháp, việc thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội đã có bước tiến bộ đáng kể. Công tác điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án và việc bắt, giam, giữ, cải tạo được thực hiện nghiêm minh, dân chủ, công bằng hơn, hạn chế được oan, sai, bỏ lọt tội phạm.
Nguyên nhân của việc kết tội oan có nhiều, nhưng một trong những nguyên nhân chủ yếu là vi phạm nghiêm trọng các nguyên tắc, trong đó có nguyên tắc suy đoán vô tội. Đó có thể là sự quan liêu, vô cảm hay thành tích chủ nghĩa của cán bộ tư pháp; cũng có thể là do thiên hướng hay định kiến buộc tội đã đưa việc điều tra, truy tố, xét xử chỉ đi theo một hướng (buộc tội) mà không quan tâm đến đến hướng khác (không có tội). Thực tế những năm qua cho thấy số người bị bắt, tạm giữ không đủ căn cứ khởi tố vụ án hình sự có giảm nhưng chưa nhiều.
Hiện tượng dùng nhục hình, bức cung vẫn còn tuy không nhiều. Số vụ án hình sự phải đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án hoặc Tòa án tuyên không phạm tội vẫn còn. Có thể đồng ý với TS. Phạm Minh Tuyên khi ông cho rằng: “Trong thời gian qua, không ít những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng nói chung và Thẩm phán nói riêng đã quá coi nhẹ nguyên tắc này mà mang nặng lối tư duy “suy đoán có tội”, nhìn nhận bị cáo như là người đã được coi là tội phạm, dù lỗi của họ chưa được chứng minh. Trong tâm lý học, thì sự nhìn nhận sai lầm trên được gọi là khuynh hướng buộc tội dẫn đến việc chỉ chú trọng tim những chứng cứ buộc tội để cố tình kết tội mà bỏ qua những chứng cứ gỡ tội hết sức quan trọng”.
Một vấn đề có liên quan đến nguyên tắc suy đoán vô tội đó là “quyền im lặng của người bị buộc tội”. Khái niệm “quyền im lặng” (Miranda) bắt nguồn từ một án lệ ở Hoa Kỳ, với nguyên tắc: “Không người nào bị bắt buộc phải làm chứng chống lại mình”, theo đó, người bị buộc tội chỉ có thể khai báo khi có mặt luật sư vì cho rằng nếu khai báo thì lời khai của họ sẽ được sử dụng làm chứng cứ để chống lại họ ở Tòa án. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 không trực tiếp ghi nhận quyền im lặng của người bị buộc tội. Nhưng qua các quy định về quyền của người bị tạm giữ (Điều 59), bị can (Điều 60), bị cáo (Điều 61) “không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội” trong quá trình tham gia tố tụng. Một số tác giả cho rằng đó là “quyền im lặng” dành cho người bị buộc tội và kiến nghị cần ghi nhận trong Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn pháp luật Dân sự - Công ty luật Minh Khuê