Nội dung được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Dân sự của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự, gọi: 1900.6162

1. Cơ sở pháp lý:

- Hiến pháp năm 2013;

- Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

2. Nguyên tắc bảo đảm tranh tụng là gì?

Để giải nghĩa được cụm từ “nguyên tắc bảo đảm tranh tụng” chúng tôi lần lượt giải nghĩa từng cụm nhỏ như sau:

“Tranh tụng” được hiểu là hoạt động tố tụng được thực hiện bởi các bên tham gia tố tụng, có quyền bình đẳng với nhau trong việc thu thập, đưa ra chứng cứ để bảo vệ các quan điểm và lợi ích của mình, phản bác lại quan điểm và lợi ích của phía đối lập.

Trong từ điển Tiếng Việt thì “bảo đảm” là “làm cho chắc chắn thực hiện được, giữ gìn được hoặc có đầy đủ những gì cần thiết”. Có thể cho rằng bảo đảm tranh tụng trong tố tụng dân sự là bảo đảm các điều kiện cần thiết làm cho các chủ thể tranh tụng chắc chắn thực hiện được quyền tranh tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trước Tòa án.

"Nguyên tắc" của tố tụng dân sự được xác định là những tư tưởng chỉ đạo, biểu thị đặc trưng của tố tụng dân sự, được quy định trong pháp luật làm nền tảng cho các hoạt động tố tụng dân sự. Nguyên tắc thường được thể hiện dưới hình thức các quy phạm pháp luật.

>> Xem thêm:  Phiên tòa là gì ? Quy định pháp luật về phiên tòa ?

Dựa theo các lớp nghĩa trên, có thể đưa ra khái niệm cụ thể về nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong tố tụng dân sự như sau: “Nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong tố tụng dân sự là một trong những nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân sự, thể hiện quan điểm có tính định hướng của Nhà nước trong việc xác định trách nhiệm của Tòa án trong việc bảo đảm được các điều kiện cần thiết làm cho các chủ thể tranh tụng thực hiện được quyền tranh tụng trong suốt quá trình tố tụng dân sự, bao gồm việc đưa ra chứng cứ, trao đổi chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý để chứng minh, biện luận cho yêu cầu của đương sự trước Tòa án . Tòa án căn cứ vào kết quả tranh tụng để quyết định về việc giải quyết vụ án dân sự.”

3. Nội dung nguyên tắc bảo đảm tranh tụng

Căn cứ theo Điều 24 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong tố tụng được quy định cụ thể như sau:

“1. Tòa án có trách nhiệm bảo đảm cho đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện quyền tranh tụng trong xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm theo quy định của Bộ luật này.

2. Đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có quyền thu thập, giao nộp tài liệu, chứng cứ kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án dân sự và có nghĩa vụ thông báo cho nhau các tài liệu, chứng cứ đã giao nộp; trình bày, đối đáp, phát biểu quan điểm, lập luận về đánh giá chứng cứ và pháp luật áp dụng để bảo vệ yêu cầu, quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc bác bỏ yêu cầu của người khác theo quy định của Bộ luật này.

3. Trong quá trình xét xử, mọi tài liệu; chứng cứ phải được xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện, công khai, trừ trường hợp không được công khai theo quy định tại Khoản 2 Điều 109 của Bộ luật này. Tòa án điều hành việc tranh tụng, hỏi những vấn đề chưa rõ và căn cứ vào kết quả tranh tụng để ra bản án, quyết định.”

Thứ nhất, các chủ thể tham gia tranh tụng có quyền tranh tụng trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án dân sự kể từ khi đương sự có yêu cầu và Tòa án thụ lí đến khi xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm.

Cụ thể hơn, các bên đương sự được đảm bảo thực hiện các quyền sau:

- Có quyền đưa ra yêu cầu;

- Có quyền và nghĩa vụ thu thập, cung cấp chứng cứ, chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình;

- Có quyền yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức đang lưu trữ, quản lý tài liệu, chứng cứ cung cấp tài liệu, chứng cứ đó cho mình để giao nộp cho Tòa án;

- Có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc các biện pháp cần thiết để bảo toàn chứng cứ trong trường hợp chứng cứ đang bị tiêu hủy, có nguy cơ tiêu hủy hoặc sau này khó có thể thu thập được;

- Có quyền đề nghị Tòa án xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ của vụ việc mà tự mình không thể thực hiện được;

>> Xem thêm:  Hoãn phiên tòa là gì ? Tìm hiểu về hoãn phiên tòa hình sự, dân sự

- Đề nghị Tòa án ra quyết định yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang lưu giữ, quản lý tài liệu, chứng cứ cung cấp tài liệu, chứng cứ đó;

- Đề nghị Tòa án triệu tập người làm chứng, trưng cầu giám định, quyết định việc định giá tài sản;

- Có quyền được biết, trao đổi và ghi chép,sao chụp tài liệu, chứng cứ do các đương sự khác xuất trình hoặc do Tòa án thu thập;

- Có quyền tham gia phiên tòa;

- Có quyền trình bày về các yêu cầu và chứng cứ chứng minh cho yêu cầu;

- Có quyền hỏi những người tham gia tố tụng khác; tranh luận về chứng cứ, trình bày quan điểm, lập luận của mình về các tình tiết của vụ án;

- Có quyền bác bỏ những lập luận của các đương sự khác, đưa ra quan điểm của mình về hướng giải quyết vụ án;

- Được đối chất với nhau hoặc với người làm chứng;

- Có quyền kháng cáo bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm;

- Có quyền đề nghị người có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm.

>> Xem thêm:  Chứng minh trong tố tụng dân sự là gì ? Quy định về nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng dân sự theo Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành?

Thứ hai, các chủ thể tham gia tranh tụng được bình đẳng trong việc thực hiện quyền tranh tụng, theo đó các bên đương sự được bình đẳng về quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự và bình đẳng về trách nhiệm pháp lý.

Nội dung này thể hiện các chủ thể tranh tụng không chỉ có các quyền tranh tụng mà họ được pháp luật thừa nhận bình đẳng khi thực hiện quyền tranh tụng của mình. Sự bình đẳng này được thể hiện trên hai khía cạnh: họ bình đẳng về quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự và họ bình đẳng về trách nhiệm pháp lý của mình. Nội dung này thể hiện tính cân bằng của pháp luật trong việc đảm bảo việc thực hiện tranh tụng trong xét xử.

Thứ ba, Tòa án có trách nhiệm áp dụng các biện pháp cần thiết theo quy định của pháp luật tạo điều kiện cho các chủ thể tranh tụng thực hiện quyền tranh tụng để ra bản án, quyết định đúng pháp luật.

Tòa án với tư cách là chủ thể dẫn dắt hoạt động tranh tụng trong tố tụng có trách nhiệm tôn trọng quyền tranh tụng của các bên đương sự, cơ quan này phải đảm bảo cho đương sự và những người tham gia tố tụng khác hiểu và đáp ứng đủ điều kiện thực hiện quyền tranh tụng theo quy định của pháp luật. Mọi đương sự đều phải được Tòa án triệu tập hợp lệ để thực hiện quyền tranh tụng. Tòa án phải đảm bảo cho các đương sự được bình đằng trong thực hiện quyền tranh tụng. Tòa án chỉ được đưa ra phán quyết dựa vào những chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý đã được hỏi, tranh luận công khai tại Tòa án.

4. Ý nghĩa của nguyên tắc bảo đảm tranh tụng

Thứ nhất, bảo đảm tranh tụng tạo ra cơ sở để các bên đương sự bảo vệ quyền và lợi ích của mình trước Tòa án. Theo phương thức tranh tụng để giải quyết vụ án, các đương sự đều có cơ sở trình bày, đưa ra các luận điểm chứng minh cho quyền lợi hợp pháp của mình cũng như phản biện lại quan điểm phía bên kia để làm rõ sự thật khách quan vụ án. Kết quả tranh tụng là cơ sở để Tòa án xác định giải quyết vụ án nên đương sự phải nỗ lực hết sức xây dựng hệ thống cơ sở lập luận tranh tụng vững vàng, tạo tiền đề chắc chắn khi tham gia hoạt động tố tụng.

Thứ hai, bảo đảm tranh tụng góp phần đảm bảo cho bản án, quyết định của Tòa án tuyên là có căn cứ và hợp pháp. Với vai trò làm rõ sự thật khách quan của vụ án, tranh tụng là cơ sở để Tòa án giải quyết được các yêu cầu của các đương sự, từ đó đưa ra quyết định cuối cùng đáp ứng hoàn toàn các quy định của pháp luật, đảm bảo công lý, công bằng trong xét xử.

5. Những quy định trong pháp luật tố tụng dân sự về tranh tụng tại phiên tòa

Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015, có nhiều sửa đổi, bổ sung, trong đó có sửa đổi, bổ sung về tranh tụng tại phiên tòa. Lần đầu tiên BLTTDS của nước ta quy định về tranh tụng tại phiên tòa, bao gồm: tranh tụng lại phiên tòa sơ thẩm và tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm

Quy định về tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm

>> Xem thêm:  Giai đoạn tố tụng là gì ? Khái niệm về giai đoạn tố tụng

Mục 3 trong Chương XIV BLTTDS năm 2015 quy định về tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm với 17 điều luật (từ Điều 247 đến Điều 263). Cụ thể là Điều 247 quy định “Nội dung và phương thức tranh tụng tại phiên tòa” như sau:

“1. Tranh tụng tại phiên tòa bao gồm việc trình bày chứng cứ, hỏi, đối đáp, trả lời và phát biểu quan điểm, lập luận về đánh giá chứng cứ, tình tiết của vụ án dân sự, quan hệ pháp luật tranh chấp và pháp luật áp dụng để giải quyết yêu cầu của các đương sự trong vụ án.

2.Việc tranh tụng tại phiên tòa được tiến hành theo sự điều khiển của chủ tọa phiên tòa.

3.Chủ tọa phiên tòa không được hạn chế thời gian tranh tụng, tạo điều kiện cho những người tham gia tranh tụng trình bày hết ý kiến nhưng có quyền yêu cầu họ dừng trình bày những ý kiến không có liên quan đến vụ án dân sự”.

Tuy Điều 247 đã quy định rõ phương thức tranh tụng tại phiên tòa, trình tự tranh tụng, trách nhiệm và quyền hạn của chủ tọa phiên tòa trong tranh tụng. Nhưng để bảo đảm thực hiện đúng quy định tại Điều 247, BLTTDS năm 2015 còn quy định cụ thể về trình tự, nội dung tranh tụng tại các điều luật từ Điều 248 đến Điều 263 để chủ tọa phiên tòa điều hành và để người tham gia tố tụng tại phiên tòa, cơ quan tiến hành tố tụng dân sự giám sát việc thực hiện phương thức tranh tụng của Hội đồng xét xử.

Quy định về tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm

Mục 2 Chương XVII BLTTDS năm 2015 quy định về Tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm với 6 điều luật (từ Điều 301 đến Điều 306). Điều 301 quy định: Nội dung và phương thức tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm như sau: “Nội dung và phương thức tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm được thực hiện theo quy định tại Điều 247 của Bộ luật này”;

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Phong tỏa tài sản là gì ? Quy định pháp luật về phong tỏa tài sản

Luật Minh Khuê - Sưu tầm & biên tập

>> Xem thêm:  Thủ tục tố tụng tư pháp là gì ? Tìm hiểu về thủ tục tố tụng tư pháp ?

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Quyền tranh tụng được bảo đảm trong các giai đoạn nào trong tố tụng dân sự?

Trả lời:

Tòa án có trách nhiệm bảo đảm cho đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện quyền tranh tụng trong xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm theo quy định của Bộ luật này.

Câu hỏi: Đương sự được quyền giao nộp chứng cứ từ giai đoạn nào trong tố tụng dân sự?

Trả lời:

Đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có quyền thu thập, giao nộp tài liệu, chứng cứ kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án dân sự.

Câu hỏi: Có bắt buộc các đương sự thông báo cho nhau những tài liệu, chứng cứ đã giao nộp không?

Trả lời:

Có. nhằm bảo đảm quyền tranh tụng của các bên, phap sluaatj tố tụng hiện hành quy định đương sự có nghĩ vụ thông báo cho nhau tài liệu, chứng cứ đã giao nộp cho tòa án.

Cụ thể quy định tại khoản 2 Điều 24 BLTTDS 2015 như sau: "Đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có quyền thu thập, giao nộp tài liệu, chứng cứ kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án dân sự và có nghĩa vụ thông báo cho nhau các tài liệu, chứng cứ đã giao nộp; trình bày, đối đáp, phát biểu quan điểm, lập luận về đánh giá chứng cứ và pháp luật áp dụng để bảo vệ yêu cầu, quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc bác bỏ yêu cầu của người khác theo quy định của Bộ luật này."