Sau khi thuê xe, người thuê xe, điều khiển xe gây tai nạn làm hư hỏng thiệt hại tài sản của tôi 270.000.000đ. Sau đó bảo hiểm có xuống thẩm định và chịu bồi thường. Nhưng Bảo hiểm (Bảo hiểm tự nguyện) là do bạn tôi đóng thì quyền lợi bạn tôi được hưởng, còn người thuê xe gây tai nạn thì phải bồi thường cho tôi. Nhưng Toà án lại tuyên do Bảo hiểm đã bồi thường, nên người thuê xe không phải chịu trách nhiệm bồi thường. Xin hỏi Luật sư! Toà án giải quyết như vậy đúng hay sai? Bảo hiểm tôi tự bỏ tiền ra đóng nay người khác được hưởng thì theo Luật định quy định như thế nào?
Rất mong được giải đáp, xin chân thành cám ơn.

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mụctư vấn luật dân sự của Công ty Luật Minh Khuê.

>>Luật sư tư vấn pháp luật dân sự gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Cơ sở pháp lý:

Bộ luật Dân sự 2015

Bộ luật tố tụng dân sự 2015

Nghị định 103/2008/NĐ-CP của Chính phủ về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới

Nội dung tư vấn:

Bộ luật dân sự 2005 có quy định riêng về hình thức của hợp đồng tại Điều 401. Tuy nhiên đối với Bộ luật Dân sự 2015, quy định riêng về hình thức của hợp đồng đã được xóa bỏ và hình thức hợp đồng sẽ áp dụng tương tự hình thức của giao dịch dân sự.

Như vậy, theo Điều 119 Bộ luật dân sự 2015 thì hình thức hợp đồng bao gồm 3 loại: lời nói, văn bản và hành vi cụ thể. Trong đó:

Điều 472, 479 Bộ luật dân sự 2015 quy định về hợp đồng thuê tài sản như sau:

"Điều 472. Hợp đồng thuê tài sản

Hợp đồng thuê tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho thuê giao tài sản cho bên thuê để sử dụng trong một thời hạn, bên thuê phải trả tiền thuê."

"Điều 479. Nghĩa vụ bảo quản tài sản thuê

1. Bên thuê phải bảo quản tài sản thuê, phải bảo dưỡng và sửa chữa nhỏ; nếu làm mất, hư hỏng thì phải bồi thường.Bên thuê không chịu trách nhiệm về những hao mòn tự nhiên do sử dụng tài sản thuê."

Như vậy, hợp đồng thuê ô tô giữa bạn của bạn và người thuê dù chỉ là thỏa thuận miệng thì vẫn có giá trị pháp lý.

Khi người thuê xe gây tai nạn nhưng nếu người thuê gây thiệt hại đối với tài sản thuê là ô tô đó thì theo Khoản 1 Điều 479 Bộ luật dân sự quy định ở trên có trách nhiệm phải bồi thường hư hỏng cho chủ xe.

Nguyên tắc bồi thường khi xe cơ giới mua bảo hiểm được quy định tại Điều 14 Nghị định 103/2008/NĐ-CP như sau:

"Điều 14. Nguyên tắc bồi thường

1. Khi tai nạn xảy ra, trong phạm vi mức trách nhiệm bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải bồi thường cho chủ xe cơ giới số tiền mà chủ xe cơ giới đã bồi thường hoặc sẽ phải bồi thường cho người bị thiệt hại.

Trường hợp chủ xe cơ giới chết hoặc bị thương tật toàn bộ vĩnh viễn, doanh nghiệp bảo hiểm bồi thường trực tiếp cho người bị thiệt hại.

2. Trường hợp cần thiết, doanh nghiệp bảo hiểm phải tạm ứng ngay những chi phí cần thiết và hợp lý trong phạm vi trách nhiệm bảo hiểm nhằm khắc phục hậu quả tai nạn.

3. Mức bồi thường bảo hiểm:

a) Mức bồi thường bảo hiểm về người: được xác định dựa trên Bảng quy định trả tiền bồi thường thiệt hại về người theo quy định của Bộ Tài chính;

b) Mức bồi thường thiệt hại về tài sản: được xác định theo thiệt hại thực tế và theo mức độ lỗi của chủ xe cơ giới.

4. Doanh nghiệp bảo hiểm không có trách nhiệm bồi thường phần vượt quá mức trách nhiệm bảo hiểm theo quy định của Bộ Tài chính.

5. Trường hợp chủ xe cơ giới đồng thời tham gia nhiều hợp đồng, bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự cho cùng một xe cơ giới thì số tiền bồi thường chỉ được tính theo hợp đồng bảo hiểm đầu tiên."

Theo quy định trên thì khi tai nạn xảy ra, trong phạm vi mức trách nhiệm bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải bồi thường cho chủ xe cơ giới số tiền mà chủ xe cơ giới đã bồi thường hoặc sẽ phải bồi thường cho người bị thiệt hại. Như vậy, chủ xe cơ giới là người đóng bảo hiểm sẽ được doanh nghiệp bảo hiểm bồi thường cho người bị thiệt hại.

Đối với trường hợp này thì do người thuê xe phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người bị hại nhưng doanh nghiệp bảo hiểm không có nghĩa vụ bồi thường mà đã bồi thường cho người bị thiệt hại nên người thuê xe không phải bồi thường cho người bị thiệt hại nữa.

Trường hợp của bạn, bạn có thể kháng cáo bản án sơ thẩm của tòa án để xác định lại chủ thể phải bồi thường thiệt hại. Việc kháng cáo theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 như sau:

"Điều 271. Người có quyền kháng cáo

Đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm, quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm."

"Điều 272. Đơn kháng cáo

1. Khi thực hiện quyền kháng cáo, người kháng cáo phải làm đơn kháng cáo. Đơn kháng cáo phải có các nội dung chính sau đây:

a) Ngày, tháng, năm làm đơn kháng cáo;

b) Tên, địa chỉ; số điện thoại, fax, địa chỉ thư điện tử (nếu có) của người kháng cáo;

c) Kháng cáo toàn bộ hoặc phần của bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật;

d) Lý do của việc kháng cáo và yêu cầu của người kháng cáo;

đ) Chữ ký hoặc điểm chỉ của người kháng cáo.

...

7. Đơn kháng cáo phải được gửi cho Tòa án cấp sơ thẩm đã ra bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo. Tường hợp đơn kháng cáp được gửi cho Tòa án cấp phúc thẩm thì Tòa án đó phải chuyển cho Tòa án cấp sơ thẩm để tiến hành các thủ tục cần thiết theo quy định của Bộ luật này."

Bạn cũng có thể khiếu nại về việc bồi thường của doanh nghiệp bảo hiểm đến người đứng đầu doanh nghiệp bảo hiểm về trách nhiệm của người thứ 3 đối với trường hợp này.

Theo khoản 5 Điều 16 Nghị định 103/2008/NĐ-CP quy định về Thời hạn yêu cầu, thanh toán và khiếu nại bồi thường:

"5. Thời hiệu khởi kiện về việc bồi thường bảo hiểm là 03 năm kể từ ngày doanh nghiệp bảo hiểm thanh toán bồi thường hoặc từ chối bồi thường. Quá thời hạn trên quyền khởi kiện không còn giá trị."

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư Tư vấn pháp luật dân sự.