1. Bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba

Bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba là loại hình bảo dảm thực hiện nghĩa vụ bằng tài sản cả bên thứ ba, theo đó, tổ chức, cá nhân (bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) sử dụng tài sản thuộc sở hữu của mình hoặc doanh nghiệp nhà nước sử dụng tài sản được giao để trả nợ thay cho bên có nghĩa vụ (bên được bảo lãnh), nếu đến hạn mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ.

 

2. Phạm vi bảo lãnh

Bên bảo lãnh có thể cam kết bảo lãnh một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ cho bên được bảo lãnh.

Nghĩa vụ bảo lãnh bao gồm cả tiền lãi trên nợ gốc, tiền phạt, tiền bồi thường thiệt hại, lãi trên số tiền chậm trả, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

Các bên có thể thỏa thuận sử dụng biện pháp bảo đảm bằng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh.

Trường hợp nghĩa vụ được bảo lãnh là nghĩa vụ phát sinh trong tương lai thì phạm vi bảo lãnh không bao gồm nghĩa vụ phát sinh sau khi người bảo lãnh chết hoặc pháp nhân bảo lãnh chấm dứt tồn tại.

 

3. Thực hiện bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba

Việc thực hiện bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba được thực hiện theo Điều 339 Bộ luật Dân sự 2015.

Trường hợp bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ của mình thì bên nhận bảo lãnh có quyền yêu cầu bên bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh trong trường hợp bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ.

Bên nhận bảo lãnh không được yêu cầu bên bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh khi nghĩa vụ chưa đến hạn.

Bên bảo lãnh không phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh trong trường hợp bên nhận bảo lãnh có thể bù trừ nghĩa vụ với bên được bảo lãnh.

Các bên có thể thỏa thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh trong trường hợp bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh.

 

4. Nhiều người cùng bảo lãnh

Khi nhiều người cùng bảo lãnh một nghĩa vụ thì phải liên đới thực hiện việc bảo lãnh, trừ trường hợp có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định bảo lãnh theo các phần độc lập; bên có quyền có thể yêu cầu bất cứ ai trong số những người bảo lãnh liên đới phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ.

Khi một người trong số những người bảo lãnh liên đới đã thực hiện toàn bộ nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh thì có quyền yêu cầu những người bảo lãnh còn lại phải thực hiện phần nghĩa vụ của họ đối với mình.

 

5. Quan hệ giữa bên bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh

Trường hợp bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ của mình thì bên nhận bảo lãnh có quyền yêu cầu bên bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh trong trường hợp bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ.

Bên nhận bảo lãnh không được yêu cầu bên bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh khi nghĩa vụ chưa đến hạn.

Bên bảo lãnh không phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh trong trường hợp bên nhận bảo lãnh có thể bù trừ nghĩa vụ với bên được bảo lãnh.

 

6. Quyền yêu cầu của bên bảo lãnh

Bên bảo lãnh có quyền yêu cầu bên được bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ đối với mình trong phạm vi nghĩa vụ bảo lãnh đã thực hiện, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

 

6. Miễn việc thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh

Trường hợp bên bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh mà bên nhận bảo lãnh miễn việc thực hiện nghĩa vụ cho bên bảo lãnh thì bên được bảo lãnh không phải thực hiện nghĩa vụ đối với bên nhận bảo lãnh, trừ trường hợp có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định khác.

Trường hợp chỉ một trong số nhiều người cùng bảo lãnh liên đới được miễn việc thực hiện phần nghĩa vụ bảo lãnh của mình thì những người khác vẫn phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh của họ.

Trường hợp một trong số những người nhận bảo lãnh liên đới miễn cho bên bảo lãnh không phải thực hiện phần nghĩa vụ đối với mình thì bên bảo lãnh vẫn phải thực hiện phần nghĩa vụ còn lại đối với những người nhận bảo lãnh liên đới còn lại.

 

7. Trách nhiệm dân sự của bên bảo lãnh

Trường hợp bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì bên bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ đó.

Trường hợp bên bảo lãnh không thực hiện đúng nghĩa vụ bảo lãnh thì bên nhận bảo lãnh có quyền yêu cầu bên bảo lãnh thanh toán giá trị nghĩa vụ vi phạm và bồi thường thiệt hại.

 

8. Chấm dứt bảo lãnh

Bảo lãnh chấm dứt trong trường hợp sau đây: Nghĩa vụ được bảo lãnh chấm dứt; Việc bảo lãnh được hủy bỏ hoặc được thay thế bằng biện pháp bảo đảm khác; Bên bảo lãnh đã thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh; Theo thỏa thuận của các bên

 

9. Bảo đảm khoản vay bằng tài sản của bên thứ ba

Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng như các văn bản pháp luật khác không có quy định trực tiếp về việc bảo đảm khoản vay bằng tài sản của bên thứ ba. Nhưng tại Điều 309 và Khoản 1 Điều 317 Bộ luật Dân sự năm 2015 có đề cập đến nội dung:

Cầm cố tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên cầm cố) giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận cầm cố) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.

Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và không giao tài sản cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp).

Như vậy, những quy định trên chỉ quy định chung là việc bên bảo đảm (là bên cầm cố hoặc bên thế chấp) có thể cầm cố hoặc thế chấp tài sản của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ mà Luật không quy định rằng nghĩa vụ này thuộc về bên bảo đảm (bên cầm cố, bên thế chấp) hay họ dùng tài sản của mình để bảo đảm cho nghĩa vụ của người khác. Từ đó có thể hiểu việc dùng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thì nghĩa vụ được bảo đảm có thể là nghĩa vụ của chính bên bảo đảm hoặc nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ mà bên bảo đảm nhận bảo đảm để thực hiện nghĩa vụ.

Từ phân tích như trên, thì bảo đảm khoản vay bằng tài sản của bên thứ ba được hiểu là việc một bên dùng tài sản của mình để đảm bảo khoản vay hoặc Khoản tín dụng được cấp của một bên. Bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba cũng là một hoạt động của bảo đảm khoản vay bằng tài sản của bên thứ ba.

Về sự phân biệt bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba và bảo đảm khoản vay bằng tài sản của bên thứ ba

Bảo lãnh có các đặc điểm riêng khác với các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ:

Bảo lãnh là biện pháp mang tính chất đối nhân. Hiện nay, chỉ có biện pháp bảo lãnh lãnh và biện pháp tín chấp có tính đối nhân

Bên bảo đảm trong bảo lãnh bao giờ cũng là người thứ ba. Người thứ ba là khái niệm được dùng để phân biệt với các bên trong quan hệ nghĩa vụ chính. Người thứ ba dùng tài sản của mình hoặc cam kết thực hiện thay nghĩa vụ cho bên có nghĩa vụ trong quan hệ nghĩa vụ chính nếu bên có nghĩa vụ có hành vi vi phạm hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh)

Nghĩ vụ giữa những người cùng bảo lãnh với bên nhận bảo lãnh là nghĩa vụ liên đới, trừ khi có thỏa thuận khác.

Bên bảo lãnh có thể cam kết bảo lãnh một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ cho bên được bảo lãnh. Nghĩa vụ bảo lãnh bao gồm cả tiền lãi trên nợ gốc, tiền phạt, tiền bồi thường thiệt hại, lãi trên số tiền chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. ( Điều 336 Bộ luật Dân sự năm 2015)

Bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba và bảo đảm khoản vay bằng tài sản của bên thứ ba đều là biện pháp bảo đảm được xác lập bởi bên khác không phải là bên có nghĩa vụ, bên vay nhưng đây là hai biện pháp bảo đảm khác nhau. Bảo lãnh là cam kết bằng uy tín của bên bảo lãnh về việc trả nợ thay và bên bảo lãnh không bắt buộc phải dùng tài sản của mình để bảo đảm cho nghĩa vụ bảo lãnh để bảo lãnh có hiệu lực. Tức là về nguyên tắc, quyền của bên nhận bảo lãnh sẽ được xác lập trên toàn bộ khối tài sản của bên bảo lãnh. Trong khi đó, biện pháp bảo đảm bằng tài sản của bên thứ ba sẽ giới hạn nghĩa vụ trả nợ thay của bên bảo đảm trong phạm vi giá trị của một hay một số tài sản nhất định được sử dụng để bảo đảm.

Về nghĩa vụ được bảo đảm, thì bảo đảm khoản vay bằng tài sản của bên thứ ba có nghĩa vụ được bảo đảm là nghĩa vụ hoàn trả, thanh toán khoản vay của bên vay (có thể là một phần hoặc toàn bộ khoản vay). Còn đối với bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba, thì nghĩa vụ được bảo đảm đó chính là nghĩa vụ bảo lãnh (tức là việc thực hiện nghĩa vụ),

Khi tài sản đảm bảo không đủ thanh toán nghĩa vụ được bảo đảm. Đối với bảo đảm khoản vay bằng tài sản của bên thứ ba, thì bên nhận bảo đảm không có quyền yêu cầu bên bảo đảm thanh toán phần còn thiếu và trở thành chủ nợ không bảo đảm đối với phần tiền này. Còn đối với trường hợp bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba, thì bên nhận bảo lãnh vẫn là chủ nợ có bảo đảm của bên được bảo lãnh nhưng trở thành chủ nợ không có bảo đảm của bên bảo lãnh đối với số tiền còn thiếu.

 

10. Tài sản của bên thứ ba được dùng để thực hiện bảo đảm, bảo lãnh

Tài sản của bên thứ ba được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ được gọi là tài sản bảo đảm. Theo quy định tại Điều 295 Bộ luật Dân sự năm 2015:

Tài sản bảo đảm phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm, trừ trường hợp cầm giữ tài sản, bảo lưu quyền sở hữu.

Tài sản bảo đảm có thể được mô tả chung, nhưng phải xác định được.

Tài sản bảo đảm có thể là tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai.

Giá trị của tài sản bảo đảm có thể lớn hơn, bằng hoặc nhỏ hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm.

Và một tài sản có thể được dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ, nếu có giá trị tại thời điểm xác lập giao dịch bảo đảm lớn hơn tổng giá trị các nghĩa vụ được bảo đảm, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác. (Điều 296 Bộ luật Dân sự năm 2015).

 

Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê sưu tầm và biên soạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê (Sưu tầm và Biên soạn).