Trẻ em được tham gia vào các vấn đề về trẻ em thông qua các hình thức: Diễn đàn, hội nghị, hội thảo, tọa đàm, cuộc thi, sự kiện; Thông qua tổ chức đại diện tiếng nói, nguyện vọng của trẻ em; hoạt động của Đội thiếu niên tiền phong HCM, ĐTNCS Hồ Chí Minh; tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề ...
1. Bảo vệ quyền của trẻ em tị nạn
Theo Điều 22 Công ước Liên Hợp Quốc về Quyền trẻ em, trẻ em tị nạn hay đang xin quy chế tỵ nạn, đặc biệt là với những em không có người lớn đi kèm, phải được bảo vệ và giúp đỡ nhân đạo thích đáng theo đúng pháp luật quốc gia và thông lệ quốc tế (Khoản 1). Khoản 2 Điều này nêu rõ, nhằm mục đích đó, các quốc gia thành viên, nếu xét thấy thích hợp, cần hợp tác trong mọi cố gắng của Liên hợp quốc hoặc các tổ chức liên chính phủ hay phi chính phủ khác để bảo vệ, giúp đỡ, tìm kiếm cha mẹ hoặc những thành viên khác trong gia đình giúp những trẻ em tị nạn hay tìm kiếm quy chế tị nạn đoàn tụ gia đình. Trong trường hợp không thể tìm được cha mẹ hay các thành viên khác của gia đình em, thì cần phải dành cho đứa trẻ đó sự bảo vệ giống như bất kỳ trẻm em nào mà vĩnh viễn hay tạm thời bị mất môi trường gia đình vì bất kỳ lý do gì, như đã được nêu trong Công ước. Liên quan đến Điều 22, Ủy ban quyền trẻ em đã thông qua Bình luận chung số 6 năm 2005 với những nội dung chi tiết về việc đối xử với trẻ em vô thừa nhận và không cha mẹ ở bên ngoài quốc gia của các em. Theo Ủy ban, nhóm trẻ em này thường phải đối mặt với những nguy cơ rất cao bị bóc lột, lạm dụng tình dục và sức lao động, cũng như bị từ chối hay cản trở việc tiếp cận với quy chế tị nạn (đoạn3). Ủy ban cho rằng, các quốc gia thành viên CRC có trách nhiệm với mọi trẻ em nằm trong quyền tài phán của mình, bất kể quốc tịch của các em. Nói cách khác, trẻ em nhập cư, trẻ em bị buôn bán ra nước ngoài, trẻ em tị nạn hay xin quy chế tị nạn đều phải được hưởng và bảo vệ các quyền theo công ước (đoạn 12), nghiêm cấm sự phân biệt đối xử với những trẻ em này (đoạn 18). Ủy ban cũng cho rằng, phù hợp với những nguyên tắc của CRC, các quốc gia thành viên có liên quan phải xác định các giải pháp ngắn hạn và dài hạn với trẻ em nhập cư, trẻ em bị buôn bán ra nước ngoài, trẻ em tị nạn hay xin quy chế tị nạn dựa trên cơ sở lợi ích tốt nhất của các em (các đoạn từ 19 đến 22), đồng thời, phải chú ý đến việc bảo vệ các quyền sống và phát triển (các đoạn 23, 24) và quyền được cung cấp thông tin và tự do bày tỏ ý kiến của trẻ em (đoạn 25). Thêm vào đó, trong đối xử với nhóm trẻ em này, các quốc gia thành viên cũng phải tuân thủ chặt chẽ những nguyên tắc của luật nhân đạo và luật tị nạn quốc tế, bao gồm nguyên tắc không được trả về nước gốc nếu việc đó có nguy cơ đe dọa đến tính mạng, danh dự, nhân phẩm của người bị trả về (các đoạn từ 26 đến 28); nguyên tắc bảo mật thông tin, trong đó bao gồm những thông tin về đời tư của người tị nạn hay xin quy chế tị nạn (các đoạn 29, 30). Đặc biệt, Ủy ban đã nêu những hướng dẫn cụ thể với các quốc gia trong việc bảo vệ nhóm trẻ em này, bao gồm những vấn đề về thủ tục đánh giá ban đầu (các đoạn 31,32); việc bổ nhiệm người giám hộ, tư vấn hay đại diện pháp lý cho trẻ (các đoạn từ 33 đến 38); việc chăm sóc và bố trí nơi ở (các đoạn 39, 40); việc bảo đảm các quyền về giáo dục (các đoạn từ 41 đến 43); quyền có mức sống thích đáng (các đoạn 41, 45); quyền được chăm sóc y tế (các đoạn từ 46 đến 49); chống buôn bán, bóc lột và lạm dụng tình dục (các đoạn từ 50 đến 53); không bị tuyển mộ và được bảo vệ trong bối cảnh xung đột vũ trang (các đoạn từ 54 đến 60); việc tiếp cận với quy chế và các quyền của người tị nạn (các đoạn từ 64 đến 78); việc đoàn tụ gia đình, hồi hương và các giải pháp bền vững khác (các đoạn từ 79 đến 94)...
2. Trẻ em khuyết tật
Điều 23 Công ước Liên Hợp Quốc về Quyền trẻ em khẳng định trẻ em khuyết tật về thể chất hoặc tinh thần có quyền được chăm sóc, giáo dục và điều trị đặc biệt, để giúp các em có cuộc sống trọn vẹn, đầy đủ, được bảo đảm phẩm giá, thúc đẩy khả năng tự lập và hoà nhập với xã hội của các em ở mức độ cao nhất có thể được. Điều này yêu cầu các quốc gia thành viên phải khuyến khích và bảo đảm dành cho trẻ em khuyết tật cũng như những người có trách nhiệm chăm sóc các em sự giúp đỡ thích hợp và miễn phí trong các vấn đề giáo dục, đào tạo, chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, tìm kiếm việc làm và các cơ hội vui chơi, giải trí, tùy theo các nguồn lực sẵn có của quốc gia. Cũng theo Điều này, trên phương diện hợp tác quốc tế, các quốc gia thành viên phải thúc đẩy việc trao đổi thông tin và hỗ trợ lẫn nhau trong việc phòng, chữa bệnh, giáo dục, phục hồi chức năng và đào tạo nghề cho trẻ em khuyết tật. Ở góc độ chung, việc bảo vệ quyền của trẻ em khuyết tật cần được tham chiếu với các văn kiện quốc tế khác về vấn đề này, đặc biệt là với Công ước về quyền của người khuyết tật mới được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua vào tháng 3 năm 2007.
Ở góc độ cụ thể, liên quan đến Điều 23, Ủy ban quyền trẻ em đã thông qua Bình luận chung số 9 năm 2006 riêng về vấn đề quyền của trẻ em khuyết tật. Theo Ủy ban, sự phân biệt đối xử với trẻ em khuyết tật là trái với quy định trong Điều 2 CRC (nguyên tắc không phân biệt đối xử về quyền của trẻ em), và bởi vậy, một trong các biện pháp để thực hiện Điều 23 là các quốc gia thành viên phải nỗ lực hết sức để ngăn chặn và xóa bỏ sự phân biệt đối xử với trẻ em khuyết tật (các đoạn từ 8 đến 10), trong đó có việc rà soát và xóa bỏ những quy định pháp luật quốc gia có tính chất phân biệt đối xử với trẻ em khuyết tật (đoạn 17). Ủy ban cho rằng, Điều 23 đã xác định những nguyên tắc cơ bản trong việc thực thi quyền của trẻ em khuyết tật và thông điệp chính của nó là trẻ em khuyết tật phải được các xã hội đùm bọc (đoạn 11). Ủy ban cũng khuyến nghị các quốc gia thành viên cần xây dựng và thực thi các chiến lược, kế hoạch hành động quốc gia trong đó dành những nguồn nhân, vật lực cho việc hiện thực hóa các quyền của trẻ em khuyết tật (đoạn 18). Ngoài ra, trong Bình luận chung số 9, Ủy ban đã đưa ra những khuyến nghị cụ thể về nhiều khía cạnh khác về quyền của trẻ em khuyết tật, trong đó bao gồm vấn đề thu thập, phân tích dữ liệu thống kê (đoạn 19); ngân sách (đoạn 20); cơ chế phối hợp (đoạn 21); áp dụng công nghệ và hợp tác quốc tế (đoạn 22); giám sát (đoạn 24); phổ biến kiến thức và đào tạo chuyên gia (đoạn 26); những điểm chú ý khi thực hiện các nguyên tắc và quyền quan trọng trong CRC với trẻ em khuyết tật (các đoạn từ 28 đến 80).
3. Trẻ em thiểu số và bản địa
Báo cáo do Cơ quan Liên Hiệp Quốc về bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ (UN Women) phối hợp với Viện Khoa học lao động và xã hội, Ủy ban Dân tộc, Đại sứ quán Ireland thực hiện.
Bà Elisa Fernandez Saenz - trưởng đại diện UN Women Việt Nam - khẳng định: "Các vấn đề bình đẳng giới đan xen với các yếu tố dân tộc thường khó giải quyết và đòi hỏi cách tiếp cận toàn diện cũng như cần những cam kết đầu tư nguồn lực tài chính trong những năm tới".
Vào năm 2020, tỉ lệ người dân tộc thiểu số (DTTS) biết chữ đạt 90%. Đây là kết quả đáng ghi nhận khi vùng DTTS và miền núi chiếm gần 3/4 diện tích tự nhiên cả nước và là nơi cư trú của 53 DTTS với 14,12 triệu người (chiếm 14,7% tổng dân số).
Trẻ em thiểu số và bản địa thuộc vào các nhóm trẻ em được chú trọng đặc biệt trong CRC. Tính dễ bị tổn thương của các nhóm này chủ yếu thể hiện ở nguy cơ các em bị mất bản sắc văn hoá của cộng đồng mình. Vì vậy, Điều 30 nêu rằng, trẻ em thuộc các cộng đồng thiểu số hoặc bản địa có quyền hưởng nền văn hoá, theo tôn giáo và sử dụng ngôn ngữ riêng của cộng đồng mình. Để bảo vệ hiệu quả các quyền của trẻ em thiểu số và bản địa, cần tham chiếu các văn kiện quốc tế khác về vấn đề này, trong đó đặc biệt là Công ước số 169 của ILO về các dân tộc bản địa (1989) và Tuyên bố của Liên hợp quốc về quyền của các nhóm thiểu số về chủng tộc, dân tộc, ngôn ngữ và tôn giáo năm 1992.
4. Bảo vệ trẻ em khỏi bị bóc lột, lạm dụng tình dục
Bóc lột và lạm dụng tình dục trẻ em là một trong những vi phạm nghiêm trọng nhất, xét về phương diện quyền con người nói chung và quyền trẻ em nói riêng. Do sự phát triển nhanh chóng của du lịch và công nghệ tin học cũng như sự lan tràn của văn hoá phẩm tình dục, tình trạng bóc lột, lạm dụng tình dục trẻ em trên thế giới trở nên ngày càng nghiêm trọng, dưới nhiều hình thức. Điều 34 yêu cầu các quốc gia thành viên phải bảo vệ trẻ em khỏi mọi hình thức bóc lột, lạm dụng tình dục, bao gồm việc lôi kéo, ép buộc trẻ em tham gia vào các hoạt động tình dục, bóc lột trẻ em làm mại dâm, sử dụng trẻ em trong biểu diễn hay tài liệu khiêu dâm. Liên quan đến vấn đề trên, cần tham chiếu với Nghị định thư không bắt buộc thứ hai của Công ước về buôn bán trẻ em, mại dâm trẻ em và văn hoá phẩm khiêu dâm trẻ em (năm 2000). Theo Nghị định thư này, buôn bán trẻ em có nghĩa là bất kỳ hành động hay giao dịch nào do một người hay một nhóm người thực hiện nhằm chuyển giao một trẻ em cho một người hoặc một nhóm người khác để lấy tiền hoặc để nhận bất kỳ lợi ích nào khác; mại dâm trẻ em có nghĩa là việc sử dụng một đứa trẻ vào các hoạt động tình dục để lấy tiền hoặc để nhận bất kỳ lợi ích nào khác; khai thác tình dục trẻ em được hiểu là việc sử dụng trẻ em trong hoạt động mại dâm, trong những buổi trình diễn hoặc trong các văn hoá phẩm khiêu dâm.
5. Bảo vệ trẻ em khỏi bị bắt cóc và buôn bán
Bắt cóc và buôn bán trẻ em cũng là một trong những hành vi vi phạm nghiêm trọng nhất các quyền của con người nói chung và quyền của trẻ em nói riêng. Điều 35 khẳng định: trẻ em có quyền được Nhà nước bảo vệ chống bắt cóc, buôn bán vì bất kỳ mục đích gì, dưới bất kỳ hình thức nào như để làm con nuôi, để khai thác tình dục, khiêu dâm hay khai thác các bộ phận cơ thể. Liên quan đến vấn đề trên, cũng cần tham chiếu với Nghị định thư không bắt buộc thứ hai của Công ước về buôn bán trẻ em, mại dâm trẻ em và văn hoá phẩm khiêu dâm trẻ em (năm 2000). Theo Nghị định thư này, buôn bán trẻ em được hiểu là hình thức mua bán có tổ chức mà trẻ em là đối tượng bị đem trao đổi, còn bắt cóc trẻ em được hiểu là việc bắt và đưa trẻ em đi một cách bất hợp pháp nhằm các mục đích tống tiền, làm con nuôi, khai thác tình dục, khiêu dâm...
Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến bài viết Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài. Đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm trong mọi lĩnh vực pháp luật luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp cụ thể.
Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn pháp luật - Công ty luật Minh Khuê