1. Quy định chung về bị đơn trong vụ án dân sự

Việc tham gia vào vụ án dân sự của bị đơn mang tính bắt buộc, không chủ động như nguyên đơn. Bị đơn là chủ thể của quan hệ pháp luật nội dung giải quyết trong vụ án dân sự và bị coi là đã xâm phạm đến quyền hoặc lợi ích của nguyên đơn hay tranh chấp với nguyên đơn.

Bị đơn có thể là cá nhân, cơ quan, tổ chức hay chủ thể khác. Khi tham gia tố tụng, bị đơn có các quyền, nghĩa vụ: cung cấp chứng cứ, chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình: yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức đang lưu giữ, quản lí chứng cứ cung cấp chứng cứ đó cho mình để giao nộp cho toà án; đề nghị toà án xác minh, thu thập chứng cứ của vụ án mà tự mình không thể thực hiện được hoặc đề nghị toà án triệu tập người làm chứng, trưng cầu giám định, định giá; khiếu nại với viện kiểm sát về những chứng cứ mà toà án đã xác minh, thu thập do đương sự khác yêu cầu; được biết và ghi chép, sao chụp tài liệu, chứng cứ do các đương sự khác xuất trình hoặc do toà án thu thập; đề nghị toà án quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; tự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án; tham gia hoà giải do toà án tiến hành; nhận thông báo hợp lệ để thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình; tự bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình; tham gia phiên toà; yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng; đề xuất với toà án những vấn đề cần hỏi người khác; được đối chất với nhau hoặc với nhân chứng; tranh luận tại phiên toà; được cấp trích lục bản án, quyết định của toà án; kháng cáo, khiếu nại bản án, quyết định của toà án; phát hiện và thông báo cho người có thẩm quyền kháng nghị căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định của toà án đã có hiệu lực pháp luật; phải có mặt theo giấy triệu tập của toà án và chấp hành các quyết định của toà án trong thời gian giải quyết vụ án; tôn trọng toà án, chấp hành nghiêm chỉnh nội quy phiên toà; nộp tiền tạm ứng án phí, án phí, lệ phí theo quy định của pháp luật; chấp hành nghiêm chỉnh bản án, quyết định của toà án đã có hiệu lực pháp luật; chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn; bác bỏ toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn; đưa ra yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn nếu có liên quan đến yêu cầu của nguyên đơn hoặc đề nghị đối trừ với nghĩa vụ mà nguyên đơn yêu cầu; được toà án thông báo về việc bị khởi kiện (Điều 58, Điều 59 Bộ luật tố tụng dân sự).

2. Bị đơn trong vụ án dân sự là gì ?

Bị đơn trong vụ án dân sự là người tham gia tố tụng để ttả lời về việc kiện do bị nguyên đơn hoặc bị người khác khởi kiện theo quy định của pháp luật. Việc tham gia vào vụ án dân sự của bị đơn mang tính bị động chứ không chủ động như nguyên đơn. Do bị nguyên đơn hoặc người đại diện của họ khởi kiện nên bị đơn buộc phải tham gia tố tụng để trả lời về việc kiện. Tuy nhiên, hoạt động tố tụng dân sự của bị đơn cũng có thể làm thay đổi quá trình giải quyết vụ án dân sự.

3. Pháp nhân có thể trở thành bị đơn hay không ?

Khi lợi ích hợp pháp của pháp nhân bị xâm phạm, pháp nhân có quyền khởi kiện đến tòa án hoặc yêu cầu cơ quan trọng tài giải quyết để bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của pháp nhân. Ngược lại, pháp nhân có tư cách bị đơn trong một vụ kiện dân sự hoặc theo yêu cầu của cơ quan trọng tài, khi các thành viên của pháp nhân thực hiện các nhiệm vụ của pháp nhân giao cho mà gây thiệt hại cho các chủ thể khác.

4. Phân tích nguyên tắc miễn trừ xét xử quốc gia của bị đơn

Miễn trừ xét xử tại bất cứ Tòa án. Nội dung quyền này thể hiện nếu không có sự đồng ý của quốc gia thì không có một tòa án nước ngoài nào có thẩm quyền thụ lý và giải quyết vụ kiện mà quốc gia là bị đơn (trong lĩnh vực dân sự). Các tranh chấp liên quan đến quốc gia phải được giải quyết bằng con đường thương lượng trực tiếp hoặc con đường ngoại giao, trừ khi quốc gia từ bỏ quyền này. Điều 5 và Điều 6 Công ước của Liên hợp quốc về quyền miễn trừ tài phán và miễn trừ tài sản của quốc gia quy định: Quốc gia được hưởng quyền miễn trừ tài phán trước một tòa án nước ngoài theo những quy định của Công ước. Các quốc gia có nghĩa vụ đảm bảo quyền miễn trừ tài phán và quyền miễn trừ tài sản của quốc gia khác, cụ thể là không thực thi quyền tài phán chống lại quốc gia khác trong một vụ kiện tại tòa án nước mình (Điều 5, Điều 6 Công ước của Liên Hợp Quốc về quyền miễn trừ tài phán và miễn trừ tài sản quốc gia năm 2004).

"Miễn trừ đối với các biện pháp cưỡng chế nhằm đảm bảo đơn kiện, nếu quốc gia đồng ỷ cho tố chức, cá nhãn nước ngoài kiện mình, tức là đồng ỷ cho Tòa án nước ngoài xét xử vụ kiện mà quốc gia là bị đơn"

Nội dung của quyền này thể hiện trong trường hợp nếu một quốc gia đồng ý để tòa án nước ngoài thụ lý, giải quyết một vụ tranh chấp mà quốc gia là một bên tham gia thì tòa án nước ngoài đó được quyền xét xử nhưng tòa án không được áp dụng bất cứ một biện pháp cưỡng chế nào như bắt giữ, tịch thu tài sản của quốc gia để phục vụ cho việc xét xử. Tòa án chỉ được áp dụng các biện pháp này nếu được quốc gia cho phép. Điều 18 Công ước của Liên hợp quốc về quyền miễn trừ tài phán và miễn trừ tài sản của quốc gia quy định:

“Không có biện pháp cưỡng chế tiền tổ tụng nào như tịch thu, chiếm giữ tài sản trái pháp luật của quốc gia được áp dụng trong một vụ kiện trước một tòa án nước ngoài...” - Điều 18 Công ước của Liên Hợp Quốc về quyền miễn trừ tài phán và miễn trừ tài sản quốc gia năm 2004.

Miễn trừ đối với các biện pháp cưỡng chế nhằm đảm bảo thi hành quyết định của Tòa án trong trường hợp quốc gia không đồng ỷ cho các tổ chức, cá nhân nước ngoài kiện, đồng ỷ cho Tòa án xét xử.

Trong trường hợp quốc gia đồng ý cho một tòa án nước ngoài giải quyết một tranh chấp mà quốc gia là một bên tham gia và nếu quốc gia là bên thua kiện thì bản án của tòa án nước ngoài đó cũng phải được quốc gia tự nguyện thi hành. Neu không có sự đồng ý của quốc gia thì không thể áp dụng các biện pháp cưỡng chế như bắt giữ, tịch thu tài sản của quốc gia nhằm cưỡng chế thi hành bản án đó. Ngay cả khi quốc gia từ bỏ quyền miễn trừ xét xử thì quyền miễn trừ đối với các biện pháp cưỡng chế bảo đảm thi hành phán quyết của tòa án vẫn phải được tôn trọng. Điều 19 Công ước của Liên hợp quốc về quyền miễn trừ tài phán và miễn trừ tài sản của quôc gia quy định:

Không có biện pháp cưỡng chế nào sau khi có phán quyết của tòa án như tịch thu, bắt giữ tài sản trái pháp luật của quốc gia được áp dụng trong một vụ kiện trước một tòa án nước ngoài..”.

Mọi vướng mắc pháp lý về luật dân sự, nguyên đơn, bị đơn dân sự, quyền thừa kế ... Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật dân sự, thừa kế trực tuyến.

6. Quy định của pháp luật tố tụng dân sự về thời điểm thực hiện quyền yêu cầu phản tố của bị đơn

Việc xác định thời điểm thực hiện quyền yêu cầu phản tố có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với các đương sự và cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án dân sự. Trước đây, Bộ luật Tố tụng dân sự (TTDS) năm 2015 không có quy định về thời điểm đưa ra yêu cầu phản tố của bị đơn nên đã xuất hiện nhiều ý kiến khác nhau về thời hạn bị đơn đưa ra yêu cầu phản tố, tại thời điểm đó có ba quan điểm như sau:
Quan điểm thứ nhất cho rằng, thời điểm đưa ra yêu cầu phản tố chỉ trong khoảng thời hạn bị đơn phải nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện[1].
Theo đó, cùng với việc phải nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện thì bị đơn có quyền yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn[2].
Như vậy, theo quy định trên thì hoàn toàn có thể hiểu rằng bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được thông báo của Tòa án. Trong trường hợp gia hạn thì thời gian được gia hạn là không quá mười lăm ngày. Tóm lại, thời hạn tối đa để bị đơn phải đưa ra yêu cầu phản tố là ba mươi ngày kể từ ngày nhận được thông báo của Tòa án.
Quan điểm thứ hai cho rằng, bị đơn có thể đưa ra yêu cầu phản tố trong suốt quá trình giải quyết vụ án[4].
“Quan điểm này dựa trên cơ sở quyền tự định đoạt của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án”[5]. Như vậy, bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố ngay cả trong phiên tòa xét xử sơ thẩm.
Tuy nhiên, quan điểm trên tạo nên bất cập trong quá trình giải quyết vụ án. Bởi lẽ, nếu bị đơn đưa ra yêu cầu phản tố sau thời điểm Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử thì Tòa án buộc phải tạm hoãn phiên tòa và tiến hành lại các thủ tục cần thiết như giao nộp chứng cứ, thu thập chứng cứ, công bố chứng cứ, hòa giải,… dẫn đến vụ án sẽ bị kéo dài thời hạn giải quyết, gây khó khăn cho cơ quan tiến hành tố tụng. Bên cạnh đó, quyền của các đương sự khác sẽ không được đảm bảo nếu thời hạn của yêu cầu phản tố được hiểu như trên. Họ sẽ không chuẩn bị kịp tài liệu, chứng cứ để chống lại yêu cầu phản tố của bị đơn.
Quan điểm thứ ba cho rằng, bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố trong giai đoạn Tòa án chuẩn bị xét xử sơ thẩm cho đến trước khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm[6].
Quan điểm này được chấp nhận rộng rãi hơn vì nó phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của Bộ luật TTDS, hài hòa quyền và lợi ích giữa nguyên đơn, bị đơn có yêu cầu phản tố và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (NCQLNVLQ) có yêu cầu độc lập.
Trước những quan điểm trái chiều nêu trên, Bộ luật TTDS năm 2004 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2011, đã quy định rõ về thời điểm bị đơn đưa ra yêu cầu phản tố, cụ thể: “Bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố trước khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm”[7].
 

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê (biên tập)