- 1. Quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình
- 2. Quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình trong pháp luật dân sự
- 3. Quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân trong pháp luật hình sự
- 4. Quyền về đời sống riêng tư bất khả xâm phạm
- 5. Quyền bí mật cá nhân và bí mật gia đình bất khả xâm phạm
Khách hàng: Xin chào luật sự! Tôi tên là N năm nay 23 tuổi. Năm ngoái tôi có đi Malaysia 1 năm trời tôi ở bên đó có gặp không ít phiền phức khi tôi phát hiện ra mình đã bị cài đặt con chíp theo dõi thì tôi vẫn còn ở Malaysia đến nay đã được 6 tháng mấy hơn tôi cứ bị làm phiền nhưng không thể nói với ai vì chẳng ai tin về chuyện này .Có nhiều người có thể đọc được suy nghĩ của tôi và thấy được chiêm bao, nói chuyện rất nhiều với tôi và thấy hết những hoạt động hàng ngày của tôi kể cả khi tôi làm chuyện ấy với chồng, tôi không biết phải làm sao để gỡ con chíp vì tôi thấy thật khó chịu và hình như tôi cảm thấy có đôi lúc đau đầu tôi ko biết mình có bị những tác dụng phụ khi bị đặt con chíp hay không xin luật sư hãy giúp đỡ cho tôi ...!
Tôi xin cảm ơn!
Người gửi: P.H
Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật hình sự của công ty luật Minh Khuê.

Luật sư tư vấn luật hình sự gọi: 1900.6162
Trả lời:
Kính chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới thư mục tư vấn của chúng tôi. Chúng tôi trả lời câu hỏi của bạn như sau:
Cơ sở pháp lý được sử dụng trong bài viết
- Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017
1. Quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình
Cá nhân là một thực thể của tự nhiên và là chủ thể của quan hệ xã hội. Cá nhân với tư cách chủ thể độc lập trong quan hệ xã hội, quan hệ dân sự, kinh tế, lao động, thương mại và các quan hệ khác trong phạm vi thời gian và không gian nhất định. Do vậy mỗi cá nhân có đời sống riêng tư, nội hàm của đời sống riêng tư có bí mật cá nhân
Về đời sống riêng tư của cá nhân: Là tập hợp các yếu tố tạo thành nét riêng đặc thù, độc lập, không thể trộn lẫn và mang dấu ấn của riêng cá nhân, không thể trộn lẫn với người khác. Đời sống riêng tư của cá nhân có đặc điểm riêng biệt của cá nhân trong quá trình sống, thời gian sống, sự trải nghiệm trong các quan hệ xã hội mà hình thành và mang dấu ấn riêng của cá nhân. Đời sống riêng tư là một quan hệ phản ánh đời sống của một cá nhân có tính độc lập và với tư cách chủ thể trong các quan hệ xã hội ổn định hoặc không ổn định trong không gian và thời gian xác định được.
Về bí mật cá nhân: Bí mật cá nhân là tổng thể các quan hệ quá khứ, các thông tin liên quan đến cá nhân mang tính chất chi phối các quan hệ cụ thể của cá nhân mà bị bộc lộ sẽ gây cho cá nhân những bất lợi hoặc dễ gây ra sự hiểu lầm ở các chủ thể khác, mà bản chất của yếu tố bí mật cá nhân không gây ra bất kỳ một thiệt hại nào cho chủ thể khác.
Đời sống riêng tư và bí mật cá nhân là hai thành tố hợp thành bí mật đời tư của cá nhân, là quyền nhân thân gắn với cá nhân được pháp luật bảo hộ.
Về bí mật gia đình: Là những thông tin về vụ việc, tài liệu liên quan đến các quan hệ giữa các thành viên của gia đình với nhau có mối quan hệ hữu cơ đến truyền thống nhiều đời hay một đời về huyết thống, về bệnh lý, về năng lực trí tuệ của các thành viên có tính hệ thống, nếu bị bộc lộ sẽ gây ra sự bất lợi cho các thành viên gia đình trong các quan hệ xã hội và quan hệ pháp luật khác thuộc nhiều lĩnh vực. Bí mật gia đình được giữ kín, nếu tất cả các thành viên trong gia đình có ý thức không muốn bộc lộ, thì không chủ thể nào có quyền xâm phạm.
Khoản 1 Điều 38 Bộ luật dân sự năm 2015 là một phương tiện và là một căn cứ pháp lý trong việc bảo vệ đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình bất khả xâm phạm.
2. Quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình trong pháp luật dân sự
Pháp luật có quy định nào về quyền riêng tư của mỗi cá nhân cụ thể trong Bộ luật dân sự năm 2005 quy định như sau tại điều 38 như sau:
"Điều 38. Quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình
1. Đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ.
2. Việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân phải được người đó đồng ý, việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến bí mật gia đình phải được các thành viên gia đình đồng ý, trừ trường hợp luật có quy định khác.
3. Thư tín, điện thoại, điện tín, cơ sở dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của cá nhân được bảo đảm an toàn và bí mật.
Việc bóc mở, kiểm soát, thu giữ thư tín, điện thoại, điện tín, cơ sở dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác chỉ được thực hiện trong trường hợp luật quy định.
4. Các bên trong hợp đồng không được tiết lộ thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của nhau mà mình đã biết được trong quá trình xác lập, thực hiện hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác."
=> Việc kiểm soát thư tín, điện thoại, điện tín, các hình thức thông tin điện tử khác của cá nhân được thực hiện trong trường hợp pháp luật có quy định và phải có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Theo Bộ luật dân sự năm 2015 quy định quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình là một quy định cần thiết, quan trọng và là một điểm nhấn phản ánh quan điểm lập pháp và trình độ lập pháp ở Việt Nam hiện nay. Nhân tố con người được bảo đảm thực hiện có hiệu quả và thể hiện rõ nhất bản chất của nhà nước pháp quyền, nhà nước của dân, do dân và vì dân. Điều 12 Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1948 của Đại Hội đồng Liên hiệp quốc quy định: “Không ai phải chịu sự can thiệp một cách tùy tiện vào cuộc sống riêng tư, gia đình, nơi ở hoặc thư tín, cũng như bị xúc phạm danh dự hoặc uy tín cá nhân.
Mọi người đều có quyền được pháp luật bảo vệ chống lại sự can thiệp và xâm phạm như vậy. Quyền con người được bảo đảm thực hiện đối với mỗi cá nhân cư trú trong phạm vi lãnh thổ đất nước mình, mà còn được bảo vệ trong trường hợp lưu trú tại một quốc gia khác.
Tại Điều 14 Công ước quốc tế về quyền của tất cả những người lao động di trú và các thành viên gia đình họ năm 1990 của Đại Hội đồng Liên hiệp quốc quy định: “Không ai được phép can thiệp một cách bất hợp pháp hoặc tùy tiện vào cuộc sống gia đình, đời tư, nhà cửa, thư tín hoặc các phương thức giao tiếp khác”… Điều 44 Công ước này quy định: “Thừa nhận gia đình là một tế bào tự nhiên và cơ bản của xã hội và có quyền được xã hội và nhà nước bảo vệ…”.
3. Quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân trong pháp luật hình sự
Còn trong Bộ luật Hình sự có quy định về tội "Tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của người khác" như sau:
"1. Người nào chiếm đoạt thư, điện báo, telex, fax hoặc các văn bản khác được truyền đưa bằng phương tiện viễn thông và máy tính hoặc có hành vi trái pháp luật xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của người khác đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ một triệu đồng đến năm triệu đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến một năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ từ một năm đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm:
a) Có tổ chức;
b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
c) Phạm tội nhiều lần;
d) Gây hậu quả nghiêm trọng;
đ) Tái phạm.
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ hai triệu đồng đến hai mươi triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm."
=> Như vậy, theo quy định trên thì việc đặt con chip theo dõi bạn mà không được sự đồng ý của bạn là vi phạm quy định về xâm phạm bí mật đời tư của bạn.Việc làm này của người xâm phạm bí mật đời tư trái phép đó có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội xâm phạm bí mật an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của người khác nếu đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm. Còn nếu như người đặt con chip đó chưa bị xử lý kỷ luật về hành vi này hoặc chưa bị xử phạt hành chính về hành vi này thì sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.
4. Quyền về đời sống riêng tư bất khả xâm phạm
Theo quy định tại khoản 2 Điều 38 Bộ luật dân sự năm 2015 thì việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân phải được người đó đồng ý.
Đời sống riêng tư của cá nhân là những sự việc, quan hệ liên quan đến cá nhân, mà cá nhân giữ cho riêng mình, thể hiện sự chủ động, tự do và tự mình thực hiện các hành vi để phục vụ cho đời sống của riêng mình. Sự khép kín của đời sống riêng tư của cá nhân mà cá nhân không muốn chia sẻ, bộc lộ cho người khác biết và cá nhân xem như những lợi ích tinh thần của bản thân và tự mình, duy nhất mình có quyền thủ đắc và tự cân bằng cuộc sống trong mọi lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, dịch vụ… Các quan hệ xã hội khác mà cá nhân luôn luôn chủ động, tự chủ giữ gìn trong đời sống riêng tư về nơi ở, quan hệ liên quan đến cá nhân. Đời sống riêng tư của cá nhân là những lợi ích tinh thần của cá nhân có mối liên hệ với tài sản hoặc không có mối liên hệ với tài sản. Đời sống riêng tư của cá nhân là quyền nhân thân tuyệt đối của cá nhân. Đời sống riêng tư của cá nhân như một sự lựa chọn tự thân của cá nhân, tuy rằng các yếu tố khác trong quan hệ xã hội và trong bản thân của sự sống nhân loại luôn luôn có sự tác động trực tiếp hay gián tiếp đến đời sống riêng tư của cá nhân.
Nếu xét về mặt xã hội và tâm lý thì đời sống riêng tư của một cá nhân là sự lựa chọn, có thể có sai lầm và có thể phù hợp với thói quen, sự trải nghiệm, rèn luyện và nhận thức về cuộc sống hiện thực của cá nhân như một chức năng, như một ước vọng hay một nhu cầu đơn thuần về tinh thần của cá nhân. Sự tự mình, cho mình và chỉ riêng mình với mục đích và quan niệm sống của cá nhân tồn tại khách quan trong xã hội hiện đại và được tôn trọng, bảo vệ bằng pháp luật.
Xét về mặt quan hệ pháp lý, quyền về đời sống riêng tư của cá nhân là quyền do luật định. Việc thực hiện quyền này và mức độ thực hiện đến đâu là do chính cá nhân định đoạt bằng hành vi của mình, vì mình, cho riêng mình và tự do hưởng dụng những lợi ích nào đó cho riêng mình, chỉ là của mình và không ai được xâm phạm.
Quyền về đời sống riêng tư còn được xem như một điều kiện liên quan đến không gian và thời gian sống của cá nhân và là nhu cầu cần thiết nhằm phục vụ cho cuộc sống của cá nhân trong một hoặc nhiều lĩnh vực, nhiều mối quan hệ pháp luật và quan hệ xã hội thông thường khác. Quyền về đời sống riêng tư còn là quyền tự chủ, độc lập, tự do, làm chủ hành vi của cá nhân trong quan hệ xã hội không làm ảnh hưởng đến quyền tự do của người khác. Sự độc lập bản thân của cá nhân thực hiện một mong muốn, một ước vọng tự do nhằm tránh và cố tránh tối đa khỏi sự can thiệp của người khác một cách vô cớ, không hợp lý đối với thói quen của cá nhân. Vì vậy, quyền về đời sống riêng tư của cá nhân được hiểu là một phạm trù pháp lý nhằm đảm bảo cho cá nhân thực hiện được các lựa chọn cho một cách sống, thể hiện chức năng để đạt một ước vọng, một điều kiện sống nhằm thỏa mãn những nhu cầu sống, tư duy, hành động phù hợp với quy định của pháp luật về đời sống riêng tư của cá nhân.
Đời sống riêng tư của cá nhân được hiểu theo nghĩa hẹp: Là quyền của cá nhân tự mình hành xử các hành vi nhằm đáp ứng trực tiếp nhu cầu sống độc lập theo cách lựa chọn của bản thân tạo ra những điều kiện thuận lợi để thực hiện đời sống riêng tư không làm phiền ai và không muốn ai làm phiền mình, đồng thời, cá nhân tự ngăn chặn các hành vi cản trở đến đời sống riêng tư của mình và có quyền khởi kiện dân sự khi đời sống riêng tư của mình bị người khác cản trở có tính thường xuyên, có hệ thống.
5. Quyền bí mật cá nhân và bí mật gia đình bất khả xâm phạm
Quyền bí mật cá nhân là quyền dân sự, là quyền nhân thân gắn với cá nhân bất khả xâm phạm và bất khả chuyển giao. Những bí mật của cá nhân theo tính chất phụ thuộc mật độ và tính chất của các quan hệ xã hội khác. Bí mật cá nhân thuộc về bí mật đời tư là những thông tin, những quan hệ trong quá khứ và hiện tại của cá nhân và cá nhân không muốn bộc lộ công khai.
Bí mật cá nhân liên quan đến nhiều yếu tố xã hội và pháp luật. Về những quan hệ liên quan đến cá nhân và những thông tin về cá nhân phát sinh trong đời sống xã hội hay từ chính bản thân cá nhân mà cá nhân muốn giữ kín, không bộc lộ. Những hành vi thu thập, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến bí mật cá nhân phải được cá nhân đồng ý, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Thư tín, điện thoại, điện tín, cơ sở dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của cá nhân được bảo đảm an toàn bí mật và bất khả xâm phạm
Trong thời đại hiện nay, do sự phát triển của khoa học và công nghệ thông tin, nên cơ sở dữ liệu chứa đựng những thông tin rất quan trọng liên quan đến cá nhân dễ bị người khác quan tâm và muốn biết những nội dung cần thiết nhằm thực hiện một việc có lợi cho mình. Vì cơ sở dữ liệu là một tập hợp các bản ghi hoặc tệp có mối liên hệ lôgic với nhau và được lưu giữ trên máy tính và dễ bị lạm dụng. Vì vậy, cơ sở dữ liệu điện tử liên quan đến cá nhân được pháp luật bảo hộ. Chỉ trong những trường hợp luật định thì việc bóc mở, kiểm soát, thu giữ thư tín, điện thoại, điện tín, cơ sở dữ liệu điện tử của cá nhân mới được thực hiện phục vụ cho việc bảo đảm an ninh quốc gia về các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, đối ngoại và quốc phòng, như theo dõi các đối tượng có âm mưu gây thiệt hại cho lợi ích quốc gia, lợi ích của tổ chức và cá nhân hoặc theo dõi cá nhân có nguy cơ phạm tội hoặc nhằm chống khủng bố.
Các bên trong việc xác lập, thực hiện hợp đồng không được tiết lộ thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của nhau mà mình đã biết được
Quy định tại khoản 4 Điều 38 Bộ luật dân sự năm 2015 nhằm ngăn chặn các hành vi lạm dụng lòng tin của nhau trong quan hệ hợp đồng để nhằm mục đích trục lợi và ngăn chặn người thứ ba nếu biết được các thông tin liên quan đến cá nhân là chủ thể giao kết, thực hiện hợp đồng để thực hiện hành vi nhằm mục đích không trong sáng, gây thiệt hại về danh dự, uy tín của cá nhân là chủ thể xác lập, thực hiện hợp đồng.
Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật về hình sự và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.
Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê