1. Bị lừa tiền thì tố cáo ở đâu ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Em muốn tố cáo hành vi lừa tiền của công dân, thì viết đơn tố cáo gửi ở Công an phường nơi ở của bị cáo trước hay gửi công an quận nơi ở của bị cáo?
Nhờ luật sư chỉ giúp ạ. Cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến, gọi: 1900.0159

Luật sư tư vấn:

Thưa bạn, Do bạn không nói rõ số tiền Bạn bị lừa là bao nhiêu và đối tượng là ai. Nên Tôi giả sử số tiền Bạn bị lừa là trên 2 triệu, thì trong trường hợp này, Bạn có quyền Tố giác hành vi lừa đảo của người đó đến một trong các cơ quan theo quy định tại điều 6 Thông tư liên tịch 06/2013/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC như sau:

"Điều 6. Thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố

1. Cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm bao gồm:

a) Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân;

b) Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân;

c) Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

d) Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát quân sự Trung ương;

đ) Bộ đội Biên phòng, cơ quan Hải quan, cơ quan Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khi thực hiện nhiệm vụ trong lĩnh vực quản lý mà tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm thuộc quyền hạn điều tra của cơ quan mình thì tiến hành giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm đó.:

Tuy nhiên, để thời gian giải quyết được nhanh thì Bạn nên Tố giác hành vi này đến Cơ quan điều tra có thẩm quyền là nơi hành vi lừa đảo được thực hiện, ví dụ nếu lừa ở nới người đó cứ trú thì Cơ quan điều tra cấp huyện hoặc tỉnh nơi cứ trú của ngườ đó, tùy vào số tiền bị chiếm đoạt, theo quy định tại khoản 4 điều 92 Bộ luật tố tụng hình sự:

"Điều 92. Cơ quan điều tra và thẩm quyền điều tra.

4- Cơ quan điều tra có thẩm quyền điều tra những vụ án hình sự mà tội phạm xảy ra trên địa phận của mình. Trong trường hợp không xác định được địa điểm xảy ra tội phạm thì việc điều tra thuộc thẩm quyền của cơ quan điều tra nơi phát hiện tội phạm, nơi bị can cư trú hoặc bị bắt.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.0159hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Bị lừa qua mạng có cách đòi được không ? Cách xư lý việc lừa tiền chạy việc

2. Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của nhiều người ?

Thưa Luật sư! Gia đình tôi có quen 1 người bạn rất thân. Cách đây khoảng 1 tháng, cậu ta có nhờ vợ chồng tôi đứng ra mượn giúp 9 triệu đồng tiền mặt, sau đó mượn xe máy và giấy tờ của tôi nói sáng mai trả, nhưng cậu ta mang đi cầm cố 10 triệu đồng. Cậu ta lại mượn 1 chiếc xe khác màu xanh của em chồng tôi (em con nhà chú ruột), cầm cố 4 triệu.
Cách đây mấy hôm, có người xuống nhà tôi, người đó là chủ nhà nơi anh ta trọ, báo rằng anh ta đã bỏ trốn, nợ tiền nhà 10 triệu và mượn CMTND cầm cố của ông chủ nhà 25 triệu (tại hiệu cầm đồ) và còn rất nhiều người nữa. Ước tính số tiền cậu ta chiếm đoạt gần vài trăm triệu, giờ gọi cậu ta chặn số của chúng tôi, còn lấy số khác vẫn gọi được nhưng không nghe máy. Trong trường hợp này chúng tôi phải làm thế nào vì chúng tôi cho vay không có giấy tờ gì cả? Ngoài ra, khi cậu ta bỏ trốn, có nhờ chúng tôi giữ giùm 1 chiếc máy bắn cá và 1 máy xèng nói rằng đồ của cậu ta nhờ gửi nhà chúng tôi. Lúc sự việc vỡ lỡ, có người lại bảo với chúng tôi là đó không phải của anh ta, giờ chúng tôi không biết tin ai và liệu chúng tôi bán máy bắn cá và xèng để lấy tiền trả nợ và nhổ xe ra thì có phạm pháp không ?
Xin chân thành cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn Luật hình sự gọi: 1900.0159

Trả lời:

Vấn đề 1:

Người bạn kia có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự với hành vi lạm dụng tín nhiệm để chiểm đoạt tài sản theo điều 140 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi năm 2009 sửa đổi năm 2009

Điều 140. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới một triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

đ) Tái phạm nguy hiểm;

e) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này.

Theo quy định tại Điều 401 Bộ luật dân sự 2005 về hình thức hợp đồng dân sự thì:

"1. Hợp đồng dân sự có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể, khi pháp luật không quy định loại hợp đồng đó phải được giao kết bằng một hình thức nhất định.

2. Trong trường hợp pháp luật có quy định hợp đồng phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký hoặc xin phép thì phải tuân theo các quy định đó.

Hợp đồng không bị vô hiệu trong trường hợp có vi phạm về hình thức, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác".

Như vậy, theo quy định trên thì hình thức của hợp đồng dân sự có thể thể hiện bằng văn bản, lời nói hoặc hành vi nhất định. Bạn đã cho người kia vay tiền, việc vay mượn tiền không lập thành văn bản tuy nhiên, ở đây có thể xác định giữa các bên đã xác lập một hợp đồng vay tiền bằng lời nói. Giao dịch dân sự không được lập thành văn bản trong trường hợp này vẫn được pháp luật thừa nhận.

Trong trường hợp này, bạn và những người bị hại có thể gửi đơn khởi kiện lên Tòa án, cùng các chứng cứ, lời khai của những người bị hại.

Vấn đề 2

Trong trường hợp này, theo quy định của pháp luật, dù những tài sản đó thuộc quyền sở hữu của người bạn kia hay của người khác thì bạn cũng không có quyền định đoạt số tài sản đó.

Điều 562. Nghĩa vụ của bên giữ tài sản

Bên giữ tài sản có các nghĩa vụ sau đây:

1. Bảo quản tài sản như đã thoả thuận, trả lại tài sản cho bên gửi theo đúng tình trạng như khi nhận giữ;

2. Chỉ được thay đổi cách bảo quản tài sản, nếu việc thay đổi là cần thiết nhằm bảo quản tốt hơn tài sản đó nhưng phải báo ngay cho bên gửi biết về việc thay đổi;

3. Báo kịp thời bằng văn bản cho bên gửi biết về nguy cơ hư hỏng, tiêu huỷ tài sản do tính chất của tài sản đó và yêu cầu bên gửi cho biết cách giải quyết trong một thời hạn; nếu hết thời hạn đó mà bên gửi không trả lời thì bên giữ có quyền thực hiện các biện pháp cần thiết để bảo quản và yêu cầu bên gửi thanh toán chi phí;

4. Phải bồi thường thiệt hại, nếu làm mất mát, hư hỏng tài sản gửi giữ, trừ trường hợp bất khả kháng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.0159 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Cách giải quyết khi bị lừa tiền nhờ xin việc ? Tố cáo hành vi lừa tiền chạy việc ở đâu ?

3. Khởi kiện hành vi bị lừa tiền để chạy việc ?

Kính chào luật sư Minh Khuê. Tôi có một vấn đề cần sự giúp đỡ của luật sư. Tôi lên vùng cao làm giáo viên dạy học từ năm 2010 và xây dựng gia đình chồng tôi cũng cùng quê, hai vợ chồng công tác đã nhiều năm và đủ điều kiện để luân chuyển công tác về quê. Năm 2015 do quen biết từ người này qua người khác nên tôi đã gặp một chị, chị ấy hứa có thể giúp chạy việc cho cả 2 vợ chồng về quê được chị ấy cũng hứa chạy việc cho 5 người nữa.
7 người chúng tôi đã cùng nhau làm hồ sơ và đem hồ sơ, đem tiền về cho chị ấy, do chị ấy nói là quen biết nhiều, chị ấy cũng là một phó hiệu trưởng trường mầm non nên chúng tôi ai nấy đều rất tin tưởng mang tiền, hồ sơ nhờ chị ấy chạy việc cho mà không làm bất cứ một giấy tờ gì cả 1 năm trôi qua nhưng công việc của chúng tôi chưa ai nhận được quyết định luân chuyển công tác nào. Chị ấy cứ hứa tháng này qua tháng khác đến giờ chúng tôi biết là chị ấy không giúp chúng tôi nên 2 vợ chồng tôi xin lại số tiền thì chị ấy cũng lại hẹn ngày này qua ngày khác sẽ trả. Giờ tôi cảm thấy rất hoang mang và lo lắng nếu chị đó không trả số tiền đó thì chúng tôi có thể kiện không? có đòi lại được số tiền đó không ? Vì lúc đưa tiền vì tin tưởng nên chúng tôi không làm giấy tờ gì cả liệu 7 người chúng tôi có thể làm chứng cho nhau được không ?
Xin các luật sư tư vấn cho tôi. Tôi xin trân thành cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn luật hình sự gọi: 1900.0159

Trả lời:

Vợ chồng bạn và 5 người khác đã đưa tiền cho một người để người đó chạy việc cho mình, tuy nhiên sau một khoảng thời gian khá dài mà người đó vẫn không thể chạy việc được cho bạn và cũng không trả lại tiền cho bạn, ban đầu giao dịch giữa các bên cũng không thỏa thuận về thời gian phải hoàn thành việc.

Do thời gian đã lâu mà người đó không thực hiện được công việc như thỏa thuận nên vợ chồng bạn có quyền đòi lại số tiền đó, nếu đòi nhiều lần không được thì bạn có thể khởi kiện tại tòa án cùng với 5 người còn lại. Mặc dù không có giấy tờ về việc giao nhận tiền nhưng bạn và những người khác có thể chứng minh bằng các cuộc điện thoại, email, tin nhắn, những người làm chứng khác...

Theo Điều 26 và Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì hồ sơ khởi kiện nộp tại Tòa án nhân dân cấp huyện nơi bị đơn cư trú hoặc làm việc.

Nếu bạn hoặc những người còn lại không có bất cứ chứng cứ nào để chứng minh rằng mình đã đưa tiền cho người đó và người đó chối cãi, không thừa nhận thì việc điều tra sẽ khó khăn hơn. Chúng tôi không thể chắc chắn rằng bạn và những người còn lại có đòi lại được tiền của mình hay không mà phải phụ thuộc vào quá trình điều tra để tòa án xét xử.

Ngoài ra, bạn cần phải lưu ý việc đưa tiền chạy việc còn có thể cấu thành nên tội phạm do đó bạn nên cân nhắc việc khởi kiện hay không khởi kiện.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.0159 để được giải đáp.

>> Xem thêm:  Bị lừa tiền qua facebook thì phải làm gì ? Làm sao để tố cáo khi bị lừa đảo

4. Thắc mắc về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản ?

Xin chào Luật sư! Con trai tôi có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của 3 người và tổng số tiền chiếm đoạt là: 2.900.000 VNĐ. Con tôi không có tiền án tiền sự, gia đình có người có công với Cách mạng, đã bồi thường khắc phục hậu quả cho người bị hại, thành khẩn khai báo với cơ quan chức năng, không có tổ chức, không có chủ định sẽ chiếm đoạt tài sản (Chỉ vì con tôi nhận làm việc trên mạng. Những người khác đều làm tốt nhưng chỉ có 3 trường hợp này do cung cấp thông tin không chính xác nên con tôi không làm được, và cũng không thấy họ đòi lại tiền. Sau đó thấy công an gọi vì có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản).
Cán bộ cơ quan điều tra đã gọi cho tôi nói là nếu xử phạt hành chính là 50 triệu đồng thì sẽ không phải đi tù nữa. Cho tôi hỏi nếu xử phạt hành chính thì mức tiền phạt thì có phải là 50 triệu đồng không?
Xin cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn luật hình sự gọi: 1900.0159

Trả lời:

Theo thông tin bác cung cấp, thì con trai bác phạm tội Chiếm giữ trái phép tài sản, không phải tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Con trai bác không có hành vi gian dối nhằm chiếm đoạt tiền của khách hàng. Tuy không chủ ý chiếm đoạt tiền, nhưng con bác phải có trách nhiệm trả lại tiền cho khách kể cả khi khách không đòi lại.

* Điều 141 Bộ luật hình sự 1999, Bộ luật hình sự 2009 sửa đổi bổ sung một số điều của Quốc hội quy định:

Người nào cố tình không trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc không giao nộp cho cơ quan có trách nhiệm tài sản có giá trị từ năm triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng, cổ vật hoặc vật có giá trị lịch sử, văn hoá bị giao nhầm hoặc do mình tìm được, bắt được, sau khi chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc cơ quan có trách nhiệm yêu cầu được nhận lại tài sản đó theo quy định của pháp luật, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

* Theo điểm c Khoản 1 Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung có quy định: Sửa đổi cụm từ “năm triệu đồng” thành cụm từ “mười triệu đồng” tại khoản 1 Điều 141.

Như vậy, chỉ khi số tiền chiếm giữ trái phép đạt mười triệu đồng thì mới cấu thành tội Chiếm giữ trái phép tài sản. Con trai bác chỉ mới chiếm giữ 2.900.000đ, do vậy chưa phải chịu trách nhiệm hình sự mà chỉ phải nộp phạt vi phạm hành chính.

* Căn cứ điểm e Khoản 2 Điều 15 Nghị định 167/2013/NĐ-CP Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội quy định con trai bác sẽ bị phạt từ 2000.000đ đến 5000.000đ đối với hành vi chiếm giữ trái phép tài sản, đồng thời bị tịch thu tang vật.

Như vậy, việc cán bộ cơ quan điều tra tuyên bố xử phạt 50.000.000đ là sai, vì vốn dĩ con trai bác không phải đi tù, và chỉ phải nộp phạt từ 2-5 triệu đồng.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng qua email Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email hoặc qua tổng đài 1900.0159. Chúng tôi sẳn sàng giải đáp.

>> Xem thêm:  Có lấy lại được tiền khi đã bị lừa chuyển khoản mà không nhận được hàng đã đặt qua mạng ?

5. Xin hỏi về tội lạm dụng chức vụ quyền hạn lừa đảo chiếm đoạt tài sản ?

Xin chào luật sư, Tôi muốn luật sư tư vấn cho tôi một việc là bạn tôi làm việc tại sở giáo dục, trong thời gian làm việc, bạn tôi hứa xin việc cho nhiều người và nhận số tiền của họ tổng số tiền là hơn 1 tỷ đồng, đến giờ bạn tôi vẫn không xin được việc cho họ và cũng không trả lại số tiền đó. Sau đó họ đưa đơn tố cáo lên công an và anh ta đã khắc phục trả lại số tiền cho họ, và họ đã đồng ý rút đơn về. Thế anh ta có bị đi tù nữa không và cho tôi hỏi nếu bị đi tù thì trong bao nhiêu năm ạ?
Mong luật sư giải đáp giúp tôi, tôi xin cảm ơn!

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 105 Bộ luật Tố tụng hình sự thì những tội phạm chỉ được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại bao gồm các tội phạm được quy định tại khoản 1 các Điều 104, 105, 106, 108, 109, 111, 113 121, 122, 131 và 171 của Bộ Luật Hình sự 1999 (Bộ luật Tố tụng Hình sự số 19/2003/QH11 của Quốc hội). Còn đối với tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì được quy định tại Điều 138 Bộ luật hình sự. Đối với tội phạm này, không nhất thiết phải có yêu cầu của bên bị hại mới bị khởi tố vụ án hình sự mà các cơ quan có thẩm quyền có thể ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can ngay cả khi người bị hại đã rút đơn khởi kiện. Về việc bạn của bạn đã trả lại số tiền trên cho bị hại chỉ được xem là biện pháp khắc phục hậu quả - là một trong những căn cứ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Thưa luật sư, xin hỏi: Vài tháng trước cháu có cho 1 anh quen mượn chứng minh thư và thẻ sinh viên ra hiệu cầm đồ sinh viên cắm với số tiền là 5 triệu đồng ,nhưng 2 tháng nay,anh ta không đóng lãi và không chịu liên lạc cháu muốn tố cáo anh ta lừa đảo chiếm đoạt tài sản có được không ạ??? và những gì cháu cần chuẩn bị trước lúc cho mượn không có giấy tờ chứng minh cháu cảm ơn!!!

Trong trường hợp của bạn, không thể truy cứu người này về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Vì theo quy định của Bộ luật dân sự, chứng minh thư hay thẻ sinh viên không phải là tài sản hay giấy tờ có giá, mà chỉ là giấy tờ nhân thân. Vì bạn đã đồng ý cho bạn mình mượn chứng minh nhân dân và thẻ sinh viên để vay nợ, lúc này, pháp luật chỉ thừa nhận quan hệ vay nợ giữa bạn và hiệu cầm đồ, chính vì vậy, bạn có nghĩa vụ phải trả khoản tiền trên cho hiệu cầm đồ, và sau đó yêu cầu bạn của mình hoàn trả lại cho bạn.

Thưa luật sư, tôi có đứng tên hộ 1 người bạn mua đồ điện tử trả góp với bên bán là công ty tài chính Home credit. Người bạn đó thanh toán được 9/12 tháng thì không thanh toán nữa và đã rời khỏi nơi cư trú khiến tôi không thể bắt người bạn đó thanh toán số tiền còn lại khoảng 7.500.000 đồng. Thời gian gần đây bên phía công ty Home Credit có gọi điện cho tôi ( vì tôi là người đứng tên mua) và bắt tôi phải thanh toán số tiền đó nếu không sẽ khởi kiện tôi vì tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Và bây giờ tôi không liên lạc được với người bạn kia. Vậy, luật sư cho tôi hỏi theo pháp luật thì tôi hay người bạn kia là người lừa đảo, và nếu bên bán khởi kiện thì tôi có cách nào để người bạn kia chịu trách nhiệm được không? Trong việc này thì tôi có người làm chứng là tôi chỉ là người đứng tên hộ, và tôi không được thụ hưởng bất kì tài sản nào mà tôi phải chịu trách nhiệm. Xin cám ơn quý luật sư

Trong trường hợp của bạn, bạn là người đứng tên mua trong quan hệ mua đồ điện tử trả góp với công ty tài chính Home Credit. Như vậy, về mặt pháp lý, pháp luật chỉ thừa nhận quan hệ mua bán trả góp giữa bạn và công ty tài chính này. Chính vì vậy, bạn có nghĩa vụ phải trả khoản nợ này cho công ty tài chính. Nếu bạn không thể trả nợ, công ty này hoàn toàn có quyền khởi kiện bạn ra Tòa án. Vì ban đầu, giữa bạn và bạn của mình có hành vi gian dối khi thực hiện việc mua hàng trả góp với công ty tài chính trên. Sau khi trả khoản tiền 7.500.000 đồng này, bạn có quyền yêu cầu bạn của bạn hoàn trả khoản tiền trên cho bạn. Nếu người này cố tình trốn tránh, không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho bạn, bạn có thể làm đơn khởi kiện người này với Tòa án, hoặc tố giác tội phạm về hành vi chiếm đoạt tài sản.

Thưa luật sư, xin hỏi: Bố cháu đi trên đường gặp một cô gái xin ngồi xe.đi được một quãng đường. Chồng cô gái bắt gặp và đổ vạ cho bố cháu là đưa vợ họ đi nhà nghỉ. Người chồng hỏi người vợ thì người vợ bảo bố cháu đưa đi nhà nghỉ. Họ đòi hỏi bố cháu phải đưa cho họ 50triệu. Theo luật sư thì có bộ luat nào quy định chuyện cháu nói không ạ?bố cháu muốn kiện lại họ tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có được không thưa luật sư ?

Theo quy định tại Điều 139 Bộ luật hình sự thì để cấu thành tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì phải có hành vi khách quan là thủ dùng thủ đoạn gian dối làm cho chủ sở hữu, người quản lý tài sản tin nhầm giao tài sản cho người phạm tội để chiếm đoạt tài sản đó.

Về khách quan, phải có hành vi dùng thủ đoạn gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản. Dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội. Việc đưa ra thông tin giả có thể bằng nhiều hình thức khác như giả vờ vay, mượn, thuê để chiếm đoạt tài sản.

Trong trường hợp của bố bạn, cô gái và người chồng đã có hành vi đưa ra thông tin lừa dối, tuy nhiên, hành vi gian dối này không thể khiến bố bạn tin và giao tài sản, bởi rõ ràng bố của bạn biết hành vi của họ là không đúng. Chính vì vậy, lúc này, bạn có quyền tố giác hai người này về hành vi vu khống của họ với cơ quan có thẩm quyền, yêu cầu họ hoàn trả lại khoản tiền 50 triệu đồng (nếu bố bạn đã giao tiền cho họ).

Kính Thưa! Em bị lừa 950.000 đồng vì người có tên Trần Tuyết Thúy, số chứng minh nhân dân 381703658 cấp ngày 15/4/2013 tại Công an tỉnh Cà Mau, hiện địa chỉ huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh. Người đó bảo chuyển tiền vào tài khoản 740.620.501.9551 chủ tài khoản Trần Tuyết Thúy, rồi sẽ giao hàng ba lô và áo quần cho em. Khi em chuyển tiền xong thì người đó không gửi hàng và đã khóa máy, chặn số điện thoại của em. Hiện tại em có giấy tờ chuyển khoản vào tài sản của người đó. vậy Em có thể kiện người đó vì tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản không ạ? Em xin cám ơn!

Theo quy định Điều 139 Bộ luật hình sự thì để bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, thì số tài sản người thực hiện hành vi chiếm đoạt là phải từ 2 triệu đồng trở lên, hoặc dưới 2 triêu đồng nhưng đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về việc chiếm đoạt tài sản, hoặc đã bị kết án về hành vi này mà chưa được xóa án tích. Còn nếu như người phạm tội không thuộc vào những trường hợp như trên thì bạn vẫn có quyền trình báo hành vi này của họ với cơ quan công an, tuy nhiên, lúc này người này chỉ bị phạt vi phạm hành chính. Còn nếu trên thực tế, ngoài bạn ra, người này còn có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của nhiều người khác nữa mà giá trị tài sản chiếm đoạt từ 2 triệu trở lên, thì người này sẽ phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Thưa luật sư, Vừa rồi tôi có tham ra kì thi công chức. Qua người quen có người tự giới thiệu quen biết hội đồng chấm thi và nói nếu tôi có nhu cầu thì sẽ giúp và tôi đã đồng ý. Họ yêu cầu với giá là 200 triệu nếu không đỗ họ sẽ trả lại. Tôi đồng ý và làm giấy vay nợ tuy nhiên trong giấy vay nợ không đề cập vấn đề thi cử chỉ là giấy vay nợ thông thường. Kì thi kết thúc tôi trượt và tôi đòi lại tiền như đã thỏa thuận tuy nhiên họ hẹn hết lần này đến lần khác không trả . Tôi nghi ngờ họ lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tôi muốn khởi kiện họ thì tôi phải làm gì và trình tự như thế nào Cảm ơn luật sư!

Trong trường hợp của bạn, để xác định hành vi chiếm đoạt tài sản của người này cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì bạn cần phải xem xét từ thời điểm ban đầu, khi nhận tiền của bạn thì những người này có khả năng xin được việc giúp bạn không. Nếu họ có khả năng, nhưng không xin được việc cho bạn và sau đó trốn tránh không hoàn trả số tiền trên cho bạn, thì trường hợp này có dấu hiệu của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Còn nếu ngay từ đầu, người này có thủ đoạn gian dối, cung cấp thông tin về việc họ có quen biết hội đồng chấm thi để bạn gia tiền cho họ, thì hành vi này cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Dù là với tội phạm nào, thì người thực hiện hành vi trên cũng đã có hành vi chiếm đoạt tài sản của bạn. Theo đó, bạn có quyền tố giác tội phạm, trình báo hành vi của người này với cơ quan có thẩm quyền (cơ quan công an, viện kiểm sát..) để làm rõ. Việc tố giác tội phạm có thể trực tiếp, hoặc tố giác bằng đơn tố cáo tội phạm cùng với việc cung cấp đầy đủ các chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của người thực hiện hành vi.

Xin chào quý công ty. Quý công ty cho tôi hỏi nhue sau. Tôi bị cơ quan điều tra bắt khẩn cấp với tội Cùng đồng bọn lừa đảo chiếm đoạt tài sản Sau khi tạm giữ 09 ngày ( có phê chuẩn của VKS ) thì VKS ra quyết định huỷ bỏ quyết định tạm giữ với lý do Không đủ căn cứ vững chắc để tiếp tục tạm giữ đối tượng Và trả tự do cho chúng tôi. Vậy xin hỏi quy công ty trường hợp này tôi có dc yêu cầu bồi thường oan sai và yêu cầu công khai xin lỗi tôi hay không ạ.

Theo quy định tại Điều 26 Luật Trách nhiệm bồi thường của nhà nước năm 2009 thì các trường hợp bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự là:

"Điều 26. Phạm vi trách nhiệm bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự

Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các trường hợp sau đây:

1. Người bị tạm giữ mà có quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự huỷ bỏ quyết định tạm giữ vì người đó không thực hiện hành vi vi phạm pháp luật;"

Vì vậy, trong trường hợp này, bạn có quyền được yêu cầu bồi thường thiệt hại cho những ngày mình bị tạm giữ (09 ngày)

Theo đó, bạn có thê rlafm đơn yêu cầu bằng văn bản về việc khôi phục danh dự cho mình tới Viện Kiểm sát nơi đã có quyết định tạm giữ bạn, cụ thể Điều 51 Luật này quy định về việc khôi phục danh dự như sau:

Điều 51. Khôi phục danh dự cho người bị thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự

1. Người bị thiệt hại quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 26 của Luật này hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền yêu cầu khôi phục danh dự trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày quyết định giải quyết bồi thường có hiệu lực pháp luật.

2. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu bằng văn bản về việc khôi phục danh dự của người bị thiệt hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ, cơ quan có trách nhiệm bồi thường đã thụ lý vụ việc phải thực hiện việc xin lỗi, cải chính công khai.

3. Việc xin lỗi, cải chính công khai được thực hiện bằng các hình thức sau đây:

a) Trực tiếp xin lỗi, cải chính công khai tại nơi cư trú hoặc nơi làm việc của người bị thiệt hại có sự tham dự của đại diện chính quyền địa phương nơi người bị thiệt hại cư trú, đại diện của cơ quan nơi người bị thiệt hại làm việc, đại diện của một tổ chức chính trị - xã hội mà người bị thiệt hại là thành viên;

b) Đăng trên một tờ báo trung ương và một tờ báo địa phương trong ba số liên tiếp theo yêu cầu của người bị thiệt hại hoặc đại diện hợp pháp của họ."

Chào luật sư, tôi làm ăn có vay mượn tiền của người ta là 100trieu đến mỗi tháng điều đóng tiền lãi đầy đủ tính tới bây giờ là được 6 năm tôi trả tiền lãi. Hiện bây giờ tôi làm ăn thất bại tôi cảm thấy ở tại địa phương tôi đag ở tôi không buôn bán được nữa không đủ điều kiện xoay sở trả đóng tiền lời tôi đã bỏ đi về quê , trước khi đi tôi có nói với người cho tôi vay tiền :"giờ tôi mới về quê sinh sống chưa được ổn định,để công việc ổn định tôi thu xếp gởi tiền lên trả". 2 tháng nay tôi chưa có tiền trả người ta điện thoại nói sẽ kiện tôi tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, thưa luật sư xin cho tôi hỏi người này kiện tôi đúng hay sai xin tư vấn giùm tôi, tôi xin cảm ơn luật sư.

Trường hợp của bạn chưa đủ điều kiện để cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Bởi đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, thì ngay từ đầu bạn phải cung cấp thông tin gian dối để người này giao tài sản cho mình. Còn trong trường hợp này, bạn vì muốn làm ăn nên vay tiền của người này 100 triệu đồng, đây là hợp đồng vay tài sản hoàn toàn hợp pháp, được xác định dựa trên ý chí tự nguyện giữa các bên.

Theo quy định của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, thì người nào Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó; (với số tiền từ 4 triệu đồng trở lên). Tuy nhiên, nếu bạn không thể trả tiền nợ, nhưng không dùng thủ đoạn gian dối hay bỏ trốn để trốn tránh nghĩa vụ trả nợ thì bạn không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm này. Tuy nhiên, nếu người bị thiệt hại có quyền làm đơn khởi kiện gửi lên Tòa án nhân dân thì bạn phải thực hiện việc trả nợ trong trường hợp này.

Trân trọng ./.

Bộ phận tư vấn Pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Bị lừa tiền qua mạng xã hội thì phải làm gì để lấy lại ? Cách làm đơn tố giác lừa đảo