1. Hành vi chuyển hàng không đúng quy cách có phải lừa đảo ?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi cần tư vấn như sau: Tôi mua hàng trên mạng của một shop xách tay. Hàng hóa có quy cách là 1 bộ bao gồm 3 chai dầu gội và 1 chai dầu xả. Khi chuyển hàng cho tôi, tôi có mở hàng (hàng không niêm phong) và hỏi lại các bạn (online) chai nào là dầu xả thì được biết là cả 4 chai là dầu gội, các bạn ấy đổ lỗi cho nhà máy đóng gói sai và tôi phải chịu việc đó, không được đổi trả hàng (chỉ được đổi trả trong trường hợp người chuyển hàng làm hỏng hàng, còn hàng lỗi hay các trường hợp khác thì không được đổi trả).
Tôi đến tận văn phòng thì đó là địa chỉ 1 cái ngõ. Gọi điện thì các bạn ấy chặn số, chặn cả facebook của tôi. Vì vậy luật sư cho tôi hỏi:

1. Tôi có quyền đòi đổi hàng hoặc trả lại hàng không?

2. Hành vi của shop như vậy có được coi là lừa đảo không?

Trân trọng cảm ơn.

Người gửi: T.L

>> Xem thêm:  Giả mạo chữ ký để thừa kế tài sản giải quyết như thế nào ? Cách chia tài sản thừa kế hợp pháp ?

>> Luật sư tư vấn luật hình sự gọi số: 1900.6162

Trả lời:

1. Tôi có quyền đòi đổi hàng hoặc trả lại hàng không ?

Theo quy định tại Điều 439 Bộ luật dân sự 2015 khi bên bán giao hàng không đúng chủng loại thì bện mua có các quyền sau đây:

Điều 439. Trách nhiệm giao tài sản không đúng chủng loại
Trường hợp tài sản được giao không đúng chủng loại thì bên mua có một trong các quyền sau đây:
1. Nhận và thanh toán theo giá do các bên thỏa thuận.
2. Yêu cầu giao tài sản đúng chủng loại và bồi thường thiệt hại.
3. Hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại nếu việc giao không đúng chủng loại làm cho bên mua không đạt được mục đích giao kết hợp đồng
Trường hợp tài sản gồm nhiều chủng loại mà bên bán không giao đúng với thỏa thuận đối với một hoặc một số loại thì bên mua có thể hủy bỏ phần hợp đồng liên quan đến loại tài sản đó và yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Theo đó bạn hoàn toàn có quyền yêu cầu bên bán đổi hàng đúng như đã thỏa thuận, hoặc trả lại hàng hủy bỏ hợp đồng.

2. Hành vi shop như vậy có được coi là lừa đảo không ?

Theo quy định của pháp luật thì mua bán hàng hóa là quan hệ dân sự. Bạn lưu ý là trong quan hệ dân sự cũng có thể có yếu tố gian đối, trong quan hệ hình sự cũng có tội danh xuất phát từ hành vi gian dối. Gian dối làm cho giao dịch dân sự vô hiệu các bên phải hoàn trả cho nhau thứ gì đã nhận, bên nào có lỗi làm cho hợp đồng vô hiệu thì phải bồi thường. Nếu có mục đích gian đối ngay từ đầu (cố tình đưa ra thông tin sai sự thật để cho người mua hiểu lầm, rồi giao tài sản cho mình, sau đó chiếm đoạt..) nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản thì mới bị xử lý về tội lừa đảo, chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 174 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017.

Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ96.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
d) Tái phạm nguy hiểm;
đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
g)97 (được bãi bỏ)
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
b)98 (được bãi bỏ)
c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
b)99 (được bãi bỏ)
c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Theo đó trong trường hợp của bạn thì tùy vào mức độ hành vi gian dối của bên bán mà Tòa Án quyết định có xử bên bán về tội lừa đảo không.

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi. Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900.6162.

>> Xem thêm:  Thế nào là tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản ? Hình phạt hành vi chiếm đoạt tài sản

2. Chồng Tôi có phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản ?

Thưa luật sư, Tôi muốn hỏi: Năm 2012 chồng em có vay của anh A số tiền là 1,2 tỷ chia làm 3 lần, mỗi lần đều có giấy vay tiền viết tay đồng thời anh A yêu cầu ký khống 2 bản giấy trắng có chữ ký của cả hai vợ chồng.

Năm 2013 chưa trả được nợ thì tháng 5/2013 anh A dùng 2 tờ giấy khống đó lập thành một giấy đặt cọc kiêm bán nhà, một giấy biên nhận tiền và kiện vợ chồng tôi với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tháng 6/2013 em có chuyển nhượng nhà đó cho người thứ 3, trước khi chuyển có giao bán trên thông tin đại chúng 4 tháng. Hiện nay cơ quan công an PC 44 đang điều tra, đến cơ quan để lấy thông tin cá nhân (mặc dù em có cho địa chỉ thường trú) và nói sắp đủ điều kiện để khởi tố. Xin luật sư cho em hỏi:

- Đây là vụ án dân sự hay hình sự?

- Khi khởi tố em có bị ảnh hưởng đến công việc không (vì em làm trong cơ quan nhà nước nếu bị khởi tố thì sẽ bị buộc thôi việc).

- Có cách nào để chứng minh với cơ quan điều tra là chữ ký khống và nội dung do bên bị nợ tiền điền vào không?

Trân trọng cảm ơn.

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo thông tin bạn cung cấp thì hợp đồng vay giữa chồng bạn và anh A từ thời điểm lập hợp đồng là một hợp đồng dân sự thông thường. Tuy nhiên hành vi ở đây có phải là hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay không thì phải có đầy đủ các hành vi cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174 Bộ Luật Hình Sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 là dùng các thủ đoạn gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác và ý định chiếm đoạt này phải có ngay từ thời điểm ban đầu. Xét trường hợp cụ thể của bạn như sau:

1) Đây là vụ án dân sự hay hình sự? Cách chứng minh với cơ quan điều tra là chữ ký khống và nội dung do bên bị nợ tiền điền vào không?

Trước tiên phải xét các giao dịch và hành vi của các bên:

- Xét hợp đồng vay tiền giữa chồng bạn và anh A là một hợp đồng dân sự thông thường theo quy định tại Điều 463 Bộ Luật Dân sự 2015 về hợp đồng vay tài sản:

Điều 463. Hợp đồng vay tài sản
Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.
Điều 466. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay
1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
2. Trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.
3. Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
4. Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
5. Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau:
a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này;
b) Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Tuy nhiên thông tin bạn cung cấp không nêu rõ về thời hạn trả nợ cho anh A nên nếu anh A muốn khởi kiện đòi tiền thì phải chứng minh rõ về việc chồng bạn đã vi phạm nghĩa vụ của hợp đồng là đến hạn trả nợ nhưng không trả được và không có thêm thỏa thuận nào khác về việc cho thêm thời gian trả nợ.

- Xét giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất của vợ chồng bạn cho người thứ 3 thì nếu trên thực tế việc chồng bạn vay tiền của anh A và không lập hợp đồng đặt cọc số tiền trên để đảm bảo cho hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của vợ chồng bạn và anh A thì vợ chồng bạn hoàn toàn có thể tiến hành việc giao dịch chuyển nhượng này. Nếu trên thực tế vợ chồng bạn đã lập giấy tờ trên cho anh A thì hợp đồng đặt cọc và giấy biên nhận tiền ở đây có bản chất là bạn sẽ phải chuyển nhượng cho anh A phần diện tích đất trên và tài sản gắn liền trên thì bạn không thể tiến hành giao dịch chuyển nhượng cho bên thứ 3.

- Xét về hành vi anh A yêu cầu vợ chồng bạn ký vào 2 tờ giấy trắng và anh A đã tự ý lập thành một hợp đồng đặt cọc để đảm bảo cho hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và căn nhà trên đất (hay là hợp đồng mua bán nhà) và một giấy biên nhận tiền mà không có sự thỏa thuận cũng như sự đồng ý của vợ chồng bạn là đang có dấu hiệu lừa đảo nhằm chiếm đoạt tài sản là diện tích đất và căn nhà trên đất của gia đình bạn. Tuy nhiên cơ quan công an đang tiến hành điều tra dựa trên đơn tố cáo của anh A tố cáo vợ chồng bạn về việc đã đồng ý chuyển nhượng diện tích đó cho anh A và đã nhận tiền theo giấy biên nhận tiền nhưng lại tiến hành việc chuyển nhượng cho bên thứ 3 là cho rằng vợ chồng bạn dùng thủ đoạn lừa dối để nhằm chiếm đoạt số tiền trên.

Như vậy để đảm bảo quyền và lợi ích của vợ chồng bạn thì bạn phải chứng mình được hành vi của anh A là thủ đoạn gian dối có thể chứng minh bằng cách yêu cầu giám định tuổi mực và giám định chữ viết vì việc giám định chữ viết hay giám định tuổi mực giúp cơ quan điều tra xác định được chữ viết có cùng một người viết hay không? Có viết cùng một thời điểm hay không? Để xác định thời điểm viết và ký tên trên các hợp đồng trên mà anh A tự lập. Từ đó, nếu bạn có thể tố cáo anh A này với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174 Bộ Luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017.

2) Khi khởi tố em có bị ảnh hưởng đến công việc không (vì em làm trong cơ quan nhà nước nếu bị khởi tố thì sẽ bị buộc thôi việc).

Việc vợ chồng bạn có bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay không phụ thuộc vào việc giám định để chứng minh các hợp đồng trên là giả mạo do anh A tự soạn thảo và không có sự thỏa thuận và đồng ý của vợ chồng bạn. Nếu việc giám định này đủ căn cứ để chứng minh thì anh A là người phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi của mình về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Nếu các giấy tờ mà anh A cung cấp là có thật thì vợ chồng bạn có thể bị truy cứu trách nhiệm về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt số tiền mà anh A đã đặt cọc cho bạn theo hợp đồng đặt cọc và giấy biên nhận tiền. Theo đó nếu bạn bị kết án phạt tù về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và có bản án quyết định của Tòa án thì là một trong những trường hợp đương nhiên chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 5, Điều 36 Bộ luật lao động 2012 nếu bạn là viên chức hoặc làm việc theo hợp đồng lao động và bạn bị buộc thôi việc theo Điều 14, Nghị định 34/2011/NĐ-CP nếu bạn là cán bộ, công chức làm việc trong cơ quan nhà nước.

Trân trọng./.

>> Tham khảo dịch vụ pháp lý liên quan: Luật sư tư vấn, tranh tụng trong lĩnh vực hình sự;

>> Xem thêm:  Ép buộc người khác ký giấy nợ bị xử lý như thế nào ? Thuê đòi nợ có vi phạm không ?

4. Tư vấn khi bị hack facebook và mạo danh lừa đảo ?

Xin chào quý luật sư, Tôi có một việc mong quý luật sư giúp đỡ. Sự việc tôi như sau: Tôi hiện đang làm việc tại Hàn Quốc và có một tài khoản facebook đã dùng được hơn 3 năm. Mấy ngày trước đây tôi đột nhiên bị mất quyền truy cập do bị đánh cắp tài khoản. Nguời đó sử dụng tài khoản của tôi để lừa gia đình tôi là đang cần tiền gấp.
Do tin tưởng không nghi ngờ gì. Chị gái tôi đã chuyển 10.000.000 đồng cho tài khoản ngân hàng người đó đưa. Rồi người đó tiếp tục mạo danh tôi nhắn tin cho rất nhiều người khác vay tiền, bên Hàn Quốc đã có hai người bạn tôi chuyển tiền cho họ. Vậy tôi lên làm thế nào?
Tôi xin chân thành cảm ơn.

Luật sư trả lời:

Khoản 1 Điều 101 Nghị định 15/2020/NĐ-CP Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin và tần số vô tuyến điện có quy định như sau:

Điều 101. Vi phạm các quy định về trách nhiệm sử dụng dịch vụ mạng xã hội
1. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi lợi dụng mạng xã hội để thực hiện một trong các hành vi sau:
a) Cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân;
b) Cung cấp, chia sẻ thông tin cổ súy các hủ tục, mê tín, dị đoan, dâm ô, đồi trụy, không phù hợp với thuần phong, mỹ tục của dân tộc;
c) Cung cấp, chia sẻ thông tin miêu tả tỉ mỉ hành động chém, giết, tai nạn, kinh dị, rùng rợn;
d) Cung cấp, chia sẻ thông tin bịa đặt, gây hoang mang trong Nhân dân, kích động bạo lực, tội ác, tệ nạn xã hội, đánh bạc hoặc phục vụ đánh bạc;
đ) Cung cấp, chia sẻ các tác phẩm báo chí, văn học, nghệ thuật, xuất bản phẩm mà không được sự đồng ý của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ hoặc chưa được phép lưu hành hoặc đã có quyết định cấm lưu hành hoặc tịch thu;
e) Quảng cáo, tuyên truyền, chia sẻ thông tin về hàng hóa, dịch vụ bị cấm;
g) Cung cấp, chia sẻ hình ảnh bản đồ Việt Nam nhưng không thể hiện hoặc thể hiện không đúng chủ quyền quốc gia;
h) Cung cấp, chia sẻ đường dẫn đến thông tin trên mạng có nội dung bị cấm.
2. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi tiết lộ thông tin thuộc danh mục bí mật nhà nước, bí mật đời tư của cá nhân và bí mật khác mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
3. Biện pháp khắc phục hậu quả:
Buộc gỡ bỏ thông tin sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn hoặc thông tin vi phạm pháp luật do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại các khoản 1 và 2 Điều này.

Như vậy, theo như căn cứ trên, người giả mạo facebook, trang thông tin điện tử của tổ chức, cá nhân có thể bị phạt hành chính từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng. Cụ thể trong trường hợp của bạn là người kia hack trang facebook cá nhân, đã giả mạo bạn với mục đích để lừa người khác.

Tùy tính chất, mức độ của hành vi vi phạm từ việc giả mạo facebook cùa người khác, nếu đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì sẽ bị truy cứu theo quy định trong Bộ luật hình sự, cụ thể là tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản căn cứ Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ96.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
d) Tái phạm nguy hiểm;
đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
g)97 (được bãi bỏ)
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
b)98 (được bãi bỏ)
c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
b)99 (được bãi bỏ)
c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Vì vậy, để có thể truy tìm ra đối tượng phạm tội bạn cần tố cáo hành vi vi phạm đến cơ quan công an và yêu cầu khởi tố vụ án theo quy định của pháp luật

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật hình sự về mao danh facebook trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi số: 1900.6162 để được giải đáp.

>> Xem thêm:  Hành vi hủy hoại tài sản của người khác thì cấu thành tội gì ?

5. Tư vấn pháp luật về tội lừa đảo trẻ em ?

Thưa luật sư, mong luật sư tư vấn giúp tôi trường hợp sau. Tôi có nói chuyện và xưng hộ vợ chồng trên Facebook với một bé gái năm nay mới 13 tuổi. Tôi đã từng nạp thẻ điện thoại cho cháu bé duy nhất hai lần với mệnh giá 50 nghìn VNĐ. Nay bị gia đình phát hiện và nói tôi là lừa đảo trẻ em. Vậy tôi có bị truy cứu trách nhiệm trước pháp luật không?
Tôi xin cảm ơn!
Người gửi: Đ.T

>> Luật sư tư vấn pháp luật hình sự, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Điều 2 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017quy định:

Điều 2. Cơ sở của trách nhiệm hình sự
1. Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật Hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự.
2. Chỉ pháp nhân thương mại nào phạm một tội đã được quy định tại Điều 76 của Bộ luật này mới phải chịu trách nhiệm hình sự.

Hiện nay, hệ thống các tội phạm trong Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi 2017 chưa có quy định về tội lừa đảo trẻ em mà chỉ có quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi 2017.

Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ96.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng
d) Tái phạm nguy hiểm;
đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
g)97 (được bãi bỏ)
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
b)98 (được bãi bỏ)
c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
b)99 (được bãi bỏ)
c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Bên cạnh đó, hành vi nói chuyện và xưng hô vợ chồng trên mạng xã hội Facebook với một bé gái 13 tuổi và nạp thẻ điện thoại cho bé gái đó chưa đủ các dấu hiệu để cấu thành một nên tội phạm được quy định trong Bộ luật Hình sự. Vì vậy, bạn sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi này.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật hình sự về mao danh facebook trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi số: 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng ./.

Bộ phận tư vấn luật hình sự - Công ty Luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Bị lừa qua mạng có cách đòi được không ? Cách xư lý việc lừa tiền chạy việc