1. Tố cáo hành vi lừa đảo thì nộp đơn đến cơ quan nào ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Khi phát hiện mình bị lừa đảo thì đến cơ quan nào để tố cáo và được giải quyết ạ ? Khi tố cáo ra cơ quan công an mà không được giải quyết thì phải làm gì ạ ?
Cảm ơn luật sư!

Trả lời:

Luật hình sự năm 1999 (Luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2009); Bộ luật hình sự năm 2015 (Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thông thường, và tội sử dụng mạng internet thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản như sau:

1. Theo luật hình sự 2009 khoản 29, Điều 1 sửa đổi bổ sung điều 226: Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản

- Người nào sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện một trong những hành vi sau đây, thì bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng hoặc phạt tù từ một năm đến năm năm

+ Sử dụng thông tin về tài khoản, thẻ ngân hàng của cơ quan, tổ chức, cá nhân để chiếm đoạt hoặc làm giả thẻ ngân hàng nhằm chiếm đoạt tài sản của chủ thẻ hoặc thanh toán hàng hóa, dịch vụ;

+ Truy cập bất hợp pháp vào tài khoản của cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm chiếm đoạt tài sản;

+ Lừa đảo trong thương mại điện tử, kinh doanh tiền tệ, huy động vốn tín dụng, mua bán và thanh toán cổ phiếu qua mạng nhằm chiếm đoạt tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân;

+ Hành vi khác nhằm chiếm đoạt tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

- Bị phạt tù từ ba năm đến bảy năm nếu thuộc trường hợp sau:

+ Có tổ chức;

+ Phạm tội nhiều lần;

+ Có tính chất chuyên nghiệp;

+ Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

+ Gây hậu quả nghiêm trọng;

+ Tái phạm nguy hiểm.

- Bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm nếu thuộc trường hợp sau:

+ Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

+ Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

+ Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

+ Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

- . Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.”

Như vậy, để xác định yếu tố cấu thành với tội này, thì người phạm tội phải có đủ 2 hành vi :

- Sử dụng sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số

- Thực hiện các thủ đoạn nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác trái pháp luật.

Nếu người phạm tội không sử dụng mạng máy tính, viễn thông, internet hay thiết bị số mà có hành vi chiếm đoạt tài sản trái pháp luật thì sẽ áp dụng theo điều 139, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hoặc lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo điều 140 như sau:

2. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản:

Điều 139 Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2009 quy định:

"1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Điều kiện với tội lừa đảo này là người phạm tội ngay từ đầu đã có ý định chiếm đoạt số tiền và có hành vi gian dối xảy ra trước hành vi chiếm đoạt. Nếu, việc chiếm đoạt tài sản thông qua hợp đồng vay, mượn, thuê hoặc các hợp đồng thì áp dụng tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản như sau:

"Điều 140. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản."

3. Tố giác tội phạm

- Cá nhân, tổ chức bị chiếm đoạt tài sản có thể thực hiện tố giác hoặc báo tin về tôi phạm với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc với các cơ quan khác, tổ chức.

Hình thức tố giác : bằng văn bản hoặc bằng miệng, nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản và có chữ ký của người tố giác.

- Cơ quan, tổ chức khi phát hiện hoặc nhận được tố giác của công dân phải báo tin ngay về tội phạm cho Cơ quan điều tra bằng văn bản.

Sau khi có tố giác hoặc báo tin về tội phạm, thì thực hiện khởi tố vụ án hình sự theo điều 100 Luật tố tụng dân sự 2003.

"Điều 100. Căn cứ khởi tố vụ án hình sự

Chỉ được khởi tố vụ án hình sự khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm. Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên những cơ sở sau đây:

1. Tố giác của công dân;

2. Tin báo của cơ quan, tổ chức;

3. Tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng;

4. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trực tiếp phát hiện dấu hiệu của tội phạm;

5. Người phạm tội tự thú"

4. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự với tội lừa đảo

- Năm năm đối với các tội phạm ít nghiêm trọng;

- Mười năm đối với các tội phạm nghiêm trọng;

- Mười lăm năm đối với các tội phạm rất nghiêm trọng;

Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được tính từ ngày bị chiếm đoạt tài sản.

Theo đó,

- Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt là đến ba năm tù;

- Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt là đến bảy năm tù; - - Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù;

- Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.

5. Thời hạn điều tra

- Thời hạn điều tra vụ án hình sự không quá hai tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng,

- Không quá ba tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá bốn tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, kể từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc điều tra.

Với tội có tình tiết phức tạp thì có thể xin gia hạn điều tra.Việc gia hạn điều tra được quy định như sau:

- Đối với tội phạm ít nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra một lần không quá hai tháng;

- Đối với tội phạm nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra hai lần, lần thứ nhất không quá ba tháng và lần thứ hai không quá hai tháng;

- Đối với tội phạm rất nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra hai lần, mỗi lần không quá bốn tháng;

- Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra ba lần, mỗi lần không quá bốn tháng.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về tội lừa đảo. Các bạn có thể dựa vào nội dung trên để trả lời câu hỏi của mình. Trân trọng ./.

>> Xem thêm:  Hành vi hủy hoại tài sản của người khác thì cấu thành tội gì ?

2. Hành vi chuyển hàng không đúng quy cách có phải lừa đảo ?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi cần tư vấn như sau: Tôi mua hàng trên mạng của một shop xách tay. Hàng hóa có quy cách là 1 bộ bao gồm 3 chai dầu gội và 1 chai dầu xả. Khi chuyển hàng cho tôi, tôi có mở hàng (hàng không niêm phong) và hỏi lại các bạn (online) chai nào là dầu xả thì được biết là cả 4 chai là dầu gội, các bạn ấy đổ lỗi cho nhà máy đóng gói sai và tôi phải chịu việc đó, không được đổi trả hàng (chỉ được đổi trả trong trường hợp người chuyển hàng làm hỏng hàng, còn hàng lỗi hay các trường hợp khác thì không được đổi trả).
Tôi đến tận văn phòng thì đó là địa chỉ 1 cái ngõ. Gọi điện thì các bạn ấy chặn số, chặn cả facebook của tôi. Vì vậy luật sư cho tôi hỏi:

1. Tôi có quyền đòi đổi hàng hoặc trả lại hàng không?

2. Hành vi của shop như vậy có được coi là lừa đảo không?

Trân trọng cảm ơn.

Người gửi: T.L

>> Luật sư tư vấn luật hình sự gọi số: 1900.0159

Trả lời:

1. Tôi có quyền đòi đổi hàng hoặc trả lại hàng không ?

Theo quy định tại Điều 437 Bộ luật dân sự 2005 khi bên bán giao hàng không đúng chủng loại thì bện mua có các quyền sau đây:

"Điều 437. Trách nhiệm giao vật không đúng chủng loại

Trong trường hợp vật được giao không đúng chủng loại thì bên mua có một trong các quyền sau đây:

1. Nhận và thanh toán theo giá do các bên thoả thuận;

2. Yêu cầu giao đúng chủng loại và bồi thường thiệt hại;

3. Huỷ bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại."

Theo đó bạn hoàn toàn có quyền yêu cầu bên bán đổi hàng đúng như đã thỏa thuận, hoặc trả lại hàng hủy bỏ hợp đồng.

2. Hành vi shop như vậy có được coi là lừa đảo không ?

Theo quy định của pháp luật thì mua bán hàng hóa là quan hệ dân sự. Bạn lưu ý là trong quan hệ dân sự cũng có thể có yếu tố gian đối, trong quan hệ hình sự cũng có tội danh xuất phát từ hành vi gian dối. Gian dối làm cho giao dịch dân sự vô hiệu (các bên phải hoàn trả cho nhau thứ gì đã nhận, bên nào có lỗi làm cho hợp đồng vô hiệu thì phải bồi thường – Điều 137 Bộ luật dân sự). Nếu có mục đích gian đối ngay từ đầu (cố tình đưa ra thông tin sai sự thật để cho người mua hiểu lầm, rồi giao tài sản cho mình, sau đó chiếm đoạt..) nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản thì mới bị xử lý về tội lừa đảo, chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 139 Bộ luật hình sự.

Theo đó trong trường hợp của bạn thì tùy vào mức độ hành vi gian dối của bên bán mà Tòa Án quyết định có xử bên bán về tội lừa đảo không.

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi. Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900.0159.

>> Xem thêm:  Bị lừa qua mạng có cách đòi được không ? Cách xư lý việc lừa tiền chạy việc

3. Chồng Tôi có phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản ?

Thưa luật sư, Tôi muốn hỏi: Năm 2012 chồng em có vay của anh A số tiền là 1,2 tỷ chia làm 3 lần, mỗi lần đều có giấy vay tiền viết tay đồng thời anh A yêu cầu ký khống 2 bản giấy trắng có chữ ký của cả hai vợ chồng.

Năm 2013 chưa trả được nợ thì tháng 5/2013 anh A dùng 2 tờ giấy khống đó lập thành một giấy đặt cọc kiêm bán nhà, một giấy biên nhận tiền và kiện vợ chồng tôi với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tháng 6/2013 em có chuyển nhượng nhà đó cho người thứ 3, trước khi chuyển có giao bán trên thông tin đại chúng 4 tháng. Hiện nay cơ quan công an PC 44 đang điều tra, đến cơ quan để lấy thông tin cá nhân (mặc dù em có cho địa chỉ thường trú) và nói sắp đủ điều kiện để khởi tố. Xin luật sư cho em hỏi:

- Đây là vụ án dân sự hay hình sự?

- Khi khởi tố em có bị ảnh hưởng đến công việc không (vì em làm trong cơ quan nhà nước nếu bị khởi tố thì sẽ bị buộc thôi việc).

- Có cách nào để chứng minh với cơ quan điều tra là chữ ký khống và nội dung do bên bị nợ tiền điền vào không?

Trân trọng cảm ơn.

Người gửi: NT Chiến

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.0159

Trả lời:

Theo thông tin bạn cung cấp thì hợp đồng vay giữa chồng bạn và anh A từ thời điểm lập hợp đồng là một hợp đồng dân sự thông thường. Tuy nhiên hành vi ở đây có phải là hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay không thì phải có đầy đủ các hành vi cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 139 Bộ Luật Hình Sự 1999 sửa đổi, bổ sung 2009 là dùng các thủ đoạn gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác và ý định chiếm đoạt này phải có ngay từ thời điểm ban đầu. Xét trường hợp cụ thể của bạn như sau:

1) Đây là vụ án dân sự hay hình sự? Cách chứng minh với cơ quan điều tra là chữ ký khống và nội dung do bên bị nợ tiền điền vào không?

Trước tiên phải xét các giao dịch và hành vi của các bên:

- Xét hợp đồng vay tiền giữa chồng bạn và anh A là một hợp đồng dân sự thông thường theo quy định tại Điều 471 và Khoản 1, Điều 474 Bộ Luật Dân sự 2005 về hợp đồng vay tài sản:

“Hợp đồng vay tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định.”

“Điều 474. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay

1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thoả thuận khác.”

Tuy nhiên thông tin bạn cung cấp không nêu rõ về thời hạn trả nợ cho anh A nên nếu anh A muốn khởi kiện đòi tiền thì phải chứng minh rõ về việc chồng bạn đã vi phạm nghĩa vụ của hợp đồng là đến hạn trả nợ nhưng không trả được và không có thêm thỏa thuận nào khác về việc cho thêm thời gian trả nợ.

- Xét giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất của vợ chồng bạn cho người thứ 3 thì nếu trên thực tế việc chồng bạn vay tiền của anh A và không lập hợp đồng đặt cọc số tiền trên để đảm bảo cho hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của vợ chồng bạn và anh A thì vợ chồng bạn hoàn toàn có thể tiến hành việc giao dịch chuyển nhượng này. Nếu trên thực tế vợ chồng bạn đã lập giấy tờ trên cho anh A thì hợp đồng đặt cọc và giấy biên nhận tiền ở đây có bản chất là bạn sẽ phải chuyển nhượng cho anh A phần diện tích đất trên và tài sản gắn liền trên thì bạn không thể tiến hành giao dịch chuyển nhượng cho bên thứ 3.

- Xét về hành vi anh A yêu cầu vợ chồng bạn ký vào 2 tờ giấy trắng và anh A đã tự ý lập thành một hợp đồng đặt cọc để đảm bảo cho hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và căn nhà trên đất (hay là hợp đồng mua bán nhà) và một giấy biên nhận tiền mà không có sự thỏa thuận cũng như sự đồng ý của vợ chồng bạn là đang có dấu hiệu lừa đảo nhằm chiếm đoạt tài sản là diện tích đất và căn nhà trên đất của gia đình bạn. Tuy nhiên cơ quan công an đang tiến hành điều tra dựa trên đơn tố cáo của anh A tố cáo vợ chồng bạn về việc đã đồng ý chuyển nhượng diện tích đó cho anh A và đã nhận tiền theo giấy biên nhận tiền nhưng lại tiến hành việc chuyển nhượng cho bên thứ 3 là cho rằng vợ chồng bạn dùng thủ đoạn lừa dối để nhằm chiếm đoạt số tiền trên.

Như vậy để đảm bảo quyền và lợi ích của vợ chồng bạn thì bạn phải chứng mình được hành vi của anh A là thủ đoạn gian dối có thể chứng minh bằng cách yêu cầu giám định tuổi mực và giám định chữ viết vì việc giám định chữ viết hay giám định tuổi mực giúp cơ quan điều tra xác định được chữ viết có cùng một người viết hay không? Có viết cùng một thời điểm hay không? Để xác định thời điểm viết và ký tên trên các hợp đồng trên mà anh A tự lập. Từ đó, nếu bạn có thể tố cáo anh A này với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 139 Bộ Luật Hình sự 1999 sửa đổi, bổ sung 2009.

2) Khi khởi tố em có bị ảnh hưởng đến công việc không (vì em làm trong cơ quan nhà nước nếu bị khởi tố thì sẽ bị buộc thôi việc).

Như vậy, việc vợ chồng bạn có bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay không phụ thuộc vào việc giám định để chứng minh các hợp đồng trên là giả mạo do anh A tự soạn thảo và không có sự thỏa thuận và đồng ý của vợ chồng bạn. Nếu việc giám định này đủ căn cứ để chứng minh thì anh A là người phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi của mình về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Nếu các giấy tờ mà anh A cung cấp là có thật thì vợ chồng bạn có thể bị truy cứu trách nhiệm về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt số tiền mà anh A đã đặt cọc cho bạn theo hợp đồng đặt cọc và giấy biên nhận tiền. Theo đó nếu bạn bị kết án phạt tù về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và có bản án quyết định của Tòa án thì là một trong những trường hợp đương nhiên chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 5, Điều 36 Bộ luật lao động 2012 nếu bạn là viên chức hoặc làm việc theo hợp đồng lao động và bạn bị buộc thôi việc theo Điều 14, Nghị định 34/2011/NĐ-CP nếu bạn là cán bộ, công chức làm việc trong cơ quan nhà nước.

Trân trọng./.

>> Tham khảo dịch vụ pháp lý liên quan: Luật sư tư vấn, tranh tụng trong lĩnh vực hình sự;

>> Xem thêm:  Cách giải quyết khi bị lừa tiền nhờ xin việc ? Tố cáo hành vi lừa tiền chạy việc ở đâu ?

4. Tư vấn khi bị hack facebook và mạo danh lừa đảo ?

Xin chào quý luật sư, Tôi có một việc mong quý luật sư giúp đỡ. Sự việc tôi như sau: Tôi hiện đang làm việc tại Hàn Quốc và có một tài khoản facebook đã dùng được hơn 3 năm. Mấy ngày trước đây tôi đột nhiên bị mất quyền truy cập do bị đánh cắp tài khoản. Nguời đó sử dụng tài khoản của tôi để lừa gia đình tôi là đang cần tiền gấp.
Do tin tưởng không nghi ngờ gì. Chị gái tôi đã chuyển 10.000.000 đồng cho tài khoản ngân hàng người đó đưa. Rồi người đó tiếp tục mạo danh tôi nhắn tin cho rất nhiều người khác vay tiền, bên Hàn Quốc đã có hai người bạn tôi chuyển tiền cho họ. Vậy tôi lên làm thế nào?
Tôi xin chân thành cảm ơn.

Luật sư trả lời:

Khoản 3 Điều 64 Nghị định 174/2013/NĐ-CP Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin và tần số vô tuyến điện có quy định như sau:

Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

a) Cung cấp nội dung thông tin sai sự thật, vu khống, xuyên tạc, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức và danh dự, nhân phẩm của cá nhân;

b) Cung cấp nội dung thông tin không phù hợp với lợi ích đất nước;

c) Đăng, phát bản đồ Việt Nam không thể hiện đầy đủ hoặc thể hiện sai chủ quyền quốc gia;

d) Đăng phát các tác phẩm đã có quyết định cấm lưu hành hoặc tịch thu;

đ) Giả mạo trang thông tin điện tử của tổ chức, cá nhân khác;

e) Không có hệ thống máy chủ đặt tại Việt Nam đáp ứng việc thanh tra, kiểm tra, lưu trữ, cung cấp thông tin theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc giải quyết khiếu nại của khách hàng đối với việc cung cấp dịch vụ theo quy định của Bộ Thông tin và Truyền thông.

Như vậy, theo như căn cứ trên, người giả mạo facebook, trang thông tin điện tử của tổ chức, cá nhân có thể bị phạt hành chính từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng. Cụ thể trong trường hợp của bạn là người kia hack trang facebook cá nhân, đã giả mạo bạn với mục đích để lừa người khác.

Tùy tính chất, mức độ của hành vi vi phạm từ việc giả mạo facebook cùa người khác, nếu đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì sẽ bị truy cứu theo quy định trong Bộ luật hình sự, cụ thể là tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản căn cứ Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật hình sự 2015, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại [...].

Vì vậy, để có thể truy tìm ra đối tượng phạm tội bạn cần tố cáo hành vi vi phạm đến cơ quan công an và yêu cầu khởi tố vụ án theo quy định của pháp luật

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật hình sự về mao danh facebook trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi số: 1900.0159 để được giải đáp.

>> Xem thêm:  Bị lừa tiền qua facebook thì phải làm gì ? Làm sao để tố cáo khi bị lừa đảo

5. Tư vấn pháp luật về tội lừa đảo trẻ em ?

Thưa luật sư, mong luật sư tư vấn giúp tôi trường hợp sau. Tôi có nói chuyện và xưng hộ vợ chồng trên Facebook với một bé gái năm nay mới 13 tuổi. Tôi đã từng nạp thẻ điện thoại cho cháu bé duy nhất hai lần với mệnh giá 50 nghìn VNĐ. Nay bị gia đình phát hiện và nói tôi là lừa đảo trẻ em. Vậy tôi có bị truy cứu trách nhiệm trước pháp luật không?
Tôi xin cảm ơn!
Người gửi: Đ.T

>> Luật sư tư vấn pháp luật hình sự, gọi: 1900.0159

Trả lời:

Điều 2 Bộ luật hình sự năm 1999; Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2009 (văn bản thay thế: Bộ luật hình sự năm 2015) quy định:

"Điều 2. Cơ sở của trách nhiệm hình sự

Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự."

Hiện nay, hệ thống các tội phạm trong BLHS năm 1999 chưa có quy định về tội lừa đảo trẻ em mà chỉ có quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139 BLHS). Bên cạnh đó, hành vi nói chuyện và xưng hô vợ chồng trên mạng xã hội Facebook với một bé gái 13 tuổi và nạp thẻ điện thoại cho bé gái đó chưa đủ các dấu hiệu để cấu thành một nên tội phạm được quy định trong BLHS. Vì vậy, bạn sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi này.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Rất cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty của chúng tôi.

Trân trọng ./.

Bộ phận tư vấn luật hình sự - Công ty Luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Có lấy lại được tiền khi đã bị lừa chuyển khoản mà không nhận được hàng đã đặt qua mạng ?