- 1. Các biện pháp điều tra đặc biệt trong pháp luật Trung Quốc
- 2. Các biện pháp điều tra đặc biệt ở Liên bang Nga
- 3. Các biện pháp điều tra đặc biệt ở Pháp
- 4. Các biện pháp điều tra đặc biệt ở Đức
- 5. Biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt ở Việt Nam
- 6. Kinh nghiệm quốc tế về áp dụng biện pháp điều tra đặc biệt trong đấu tranh chống tham nhũng
1. Các biện pháp điều tra đặc biệt trong pháp luật Trung Quốc
Bộ luật tố tụng hình sự Trung Quốc quy định ở Mục 8 (Chương II. Điều tra: Kỹ thuật điều tra đặc biệt), trong đó, ngoài ba điều là Điều 148, Điều 149, Điều 150 về kỹ thuật điều tra đặc biệt, Điều 151 còn quy định về biện pháp che giấu thân phận để thực hiện điều tra (lực lượng bí mật) và thực hiện chuyển giao có giám sát.
2. Các biện pháp điều tra đặc biệt ở Liên bang Nga
Bộ luật tố tụng hình sự Liên bang Nga quy định (Chương III. Điều tra, thuộc Phần thứ hai. Thủ tục tố tụng trước khi xét xử) các biện pháp điều tra đặc biệt gồm: Giám sát và ghi âm các cuộc trao đổi qua điện thoại hoặc bằng các hình thức khác (Điều 186); thu thập thông tin và liên lạc giữa những người thuê bao và các thiết bị thuê bao.
3. Các biện pháp điều tra đặc biệt ở Pháp
Bộ luật tố tụng hình sự Cộng hòa Pháp quy định nhóm biện pháp điều tra đặc biệt như: Giám sát (người hoặc tài sản); thâm nhập (đến gần, tiếp xúc với đối tượng với căn cước giả); chặn liên lạc qua đường viễn thông; cài đặt phương tiện ghi âm và ghi hình ảnh tại một số địa điểm hoặc trong một số phương tiện đi lại; truy cập dữ liệu tin học (lắp đặt các thiết bị kỹ thuật mà không cần có sự đồng ý của đương sự, để truy cập các dữ liệu tin học ở tất cả các địa điểm, nhằm ghi lại, lưu giữ và truyền tải các dữ liệu này).
4. Các biện pháp điều tra đặc biệt ở Đức
Bộ luật tố tụng hình sự Cộng hòa Liên bang Đức quy định các biện pháp điều tra đặc biệt gồm: nghe lén và ghi âm điện thoại; nghe lén và ghi âm thông tin viễn thông; nghe lén và ghi âm các cuộc nói chuyện riêng; khai thác thông tin kết nối viễn thông; đặt các thiết bị kỹ thuật giám sát; dò tìm IMS (tìm ID của một thiết bị đầu cuối kết nối điện thoại di động và số của thẻ được sử dụng; tìm vị trí của một thiết bị đầu cuối kết nối điện thoại di động để xác định tình tiết hoặc xác định nơi ở của người bị buộc tội); điều tra trinh sát bí mật (nhân viên cảnh sát hoạt động bí mật với căn cước giả và họ được quyền tham gia các giao dịch pháp lý với căn cước đó); thâm nhập vào nhà riêng với căn cước giả; thiết lập chốt kiểm tra giao thông.
Cùng với việc quy định cho phép áp dụng các biện pháp điều tra đặc biệt đối với các loại tội phạm nhất định, pháp luật tố tụng hình sự của các quốc gia này cũng đã đặt ra thủ tục chặt chẽ để các cơ quan tiến hành tố tụng không lạm dụng, xâm phạm quyền tự do cơ bản của con người.
5. Biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt ở Việt Nam
Trong Bộ luật tố tụng hình sự 2015 của Việt Nam có một chương riêng quy định về các biện pháp điều tra đặc biệt.
Theo quy định tại Điều 223 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt gồm: Ghi âm, ghi hình bí mật; nghe điện thoại bí mật; thu thập bí mật dữ liệu điện tử. Trong đó, ghi âm bí mật là biện pháp ghi lại nội dung của cuộc trò chuyện, trao đổi của các đối tượng tình nghi trong vụ án với nhau; ghi lại cuộc nói chuyện giữa đối tượng tình nghi với người tố giác tội phạm... Ghi hình bí mật là biện pháp ghi lại hình ảnh của đối tượng nghi vấn có hành vi phạm tội để chứng minh, làm rõ diễn biến, tính chất của hành vi phạm tội. Nghe điện thoại bí mật là biện pháp nghe và có thể ghi lại lời nói của đối tượng nghi vấn để bổ sung chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của đối tượng nghi vấn. Biện pháp nghe điện thoại bí mật có thể ghi lại cuộc trao đổi, bàn bạc của đối tượng khi chuẩn bị thực hiện hành vi phạm tội, các biểu hiện trong quá trình cũng như khi đã thực hiện hành vi phạm tội. Thu thập bí mật dữ liệu điện tử là thu thập một cách bí mật các thông tin dưới dạng điện tử như: Ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh được tạo ra, lưu trữ, truyền đi bởi phương tiện điện tử. Dữ liệu điện tử có thể được mã hóa, được ẩn đi bởi sự chủ ý của người dùng, nhất là đối với các tội phạm sử dụng công nghệ cao khi người phạm tội thường tìm mọi cách để che giấu những thông tin, tài liệu liên quan đến hành vi phạm tội của mình.
Theo Điều 224 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 thì các biện pháp điều tra đặc biệt chỉ được áp dụng trong một số trường hợp nhất định, đó là:
- Tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội phạm về ma túy, tội phạm về tham nhũng, tội khủng bố, tội rửa tiền;
- Tội phạm khác có tổ chức thuộc loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Thủ trưởng Cơ quan điều tra quân sự cấp quân khu trở lên tự mình hoặc theo yêu cầu của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu có quyền ra quyết định áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt. Trường hợp vụ án do Cơ quan điều tra cấp huyện, Cơ quan điều tra quân sự khu vực thụ lý, điều tra thì Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp huyện, Thủ trưởng Cơ quan điều tra quân sự khu vực đề nghị Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Thủ trưởng Cơ quan điều tra quân sự cấp quân khu xem xét, quyết định áp dụng.
6. Kinh nghiệm quốc tế về áp dụng biện pháp điều tra đặc biệt trong đấu tranh chống tham nhũng
Tham khảo luật tố tụng hình sự của một số quốc gia, trong đó có những quốc gia có những thể chế chính trị giống Việt Nam như Trung Quốc, hay quốc gia trước đây có nền tư pháp giống chúng ta như Nga, Hungary và cả những quốc gia tiên tiến hơn như Đức, Pháp, Mỹ… Tất cả các quốc gia này đều có quy định biện pháp điều tra đặc biệt. Đó là các biện pháp theo dõi bí mật; ghi âm, ghi hình bí mật; chặn và ghi âm các cuộc liên lạc viễn thông; thu thập bí mật dữ liệu điện tử; khám bí mật chỗ ở; sử dụng trinh sát hoặc cộng tác viên bí mật; kiểm tra giấy tờ; lập chốt giả để kiểm tra giao thông…
Hơn nữa, Việt Nam đã tham gia nhiều Công ước của Liên hợp quốc, trong đó có công ước về đấu tranh chống tội phạm tham nhũng, ma túy, chống tội phạm có tổ chức. Chúng ta đã cam kết sẽ luật hóa biện pháp điều tra đặc biệt này, cho nên việc bàn và tiến tới đưa một chương quy định biện pháp điều tra đặc biệt trong Bộ luật tố tụng hình sự là một đòi hỏi tất yếu của việc thực hiện các cam kết quốc tế.
Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng (UNCAC) cũng đòi hỏi mọi quốc gia phải áp dụng các biện pháp cần thiết, đủ mạnh và biện pháp này cũng là một biện pháp đặc biệt. Các biện pháp điều tra đặc biệt được UNCAC nhấn mạnh về tầm quan trọng trong việc đấu tranh phòng, chống các tội phạm, đặc biệt là các tội phạm ma túy, các tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia và tội phạm tham nhũng. Theo thống kê, xu hướng áp dụng các biện pháp này của các quốc gia trên thế giới ngày càng tăng do tính chất, mức độ vi phạm ngày càng nghiêm trọng; thủ đoạn, hành vi phạm tội ngày càng tinh vi; người phạm tội trong các vụ án tham nhũng là người có chức vụ, quyền hạn nên thường tìm mọi cách che giấu hành vi, can thiệp vào quá trình xử lý...
Mặc dù vậy, việc áp dụng các biện pháp này vẫn được cảnh báo là cần thận trọng để tránh vi phạm quyền con người và đảm bảo giá trị về mặt chứng cứ của các dữ liệu thu được. Bởi vậy, việc áp dụng các biện pháp này chỉ giới hạn đối với một số nhóm tội rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng, kèm theo là quy định chặt chẽ về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, cũng như có cơ chế kiểm soát như phê chuẩn của viện kiểm sát hoặc của tòa án.
Theo UNCAC và kinh nghiệm của nhiều quốc gia thành viên, các biện pháp điều tra đặc biệt bao gồm: kiểm soát vận chuyển (thường áp dụng trong các trường hợp qua biên giới và trong các vụ án ma túy); giám sát, theo dõi điện tử (theo dõi điện thoại, thư điện tử...); giám sát, theo dõi đối tượng (theo dõi đối tượng tình nghi); hoạt động tình báo, hoạt động “chìm”; kiểm tra liêm chính; giám sát giao dịch tài chính và một số biện pháp khác. Qua đánh giá không đầy đủ, thì các biện pháp này rất có hiệu quả trong việc thu thập thông tin, đấu tranh phòng, chống tham nhũng tại một số quốc gia. Việc áp dụng các biện pháp này cũng giúp xử lý “sớm” hành vi có dấu hiệu tham nhũng và giúp các cơ quan tiến hành tố tụng có được thông tin và chủ động trong việc áp dụng các biện pháp phong tỏa, tạm giữ, kê biên để thu hồi tài sản tham nhũng.
Tuy nhiên, việc quy định và áp dụng biện pháp này sẽ có hai mặt của nó mà cơ quan áp dụng phải lưu ý, đó là: Quy định sẽ góp phần nâng cao khả năng, hiệu quả phát hiện, điều tra tội phạm, phòng, chống tham nhũng, nhưng phải làm thế nào để không lạm dụng biện pháp này, không xâm phạm quyền tự do riêng tư, quyền con người là vấn đề quan trọng. Cần trả lời được các câu hỏi cụ thể sau: Biện pháp điều tra đặc biệt được áp dụng với ai? Thời hạn áp dụng bao lâu? Ai là người ra quyết định áp dụng và người có thẩm quyền phê chuẩn quyết định áp dụng?
Phải có hướng dẫn thật cụ thể đối tượng và trường hợp nào, bối cảnh nào cần áp dụng, nếu áp dụng tràn lan thì người dân sẽ bị xâm phạm quyền tự do riêng tư. Luật cần quy định ngắn gọn nên quá trình triển khai, cơ quan có trách nhiệm phải hướng dẫn cụ thể ngay vì đây là chế định mới. Viện Kiểm sát phải tăng cường kiểm sát việc áp dụng những biện pháp này; Tòa án khi xét xử cũng vậy, cần xem xét các chứng cứ có trong vụ án có được thu thập theo đúng quy định hay không? Tuy nhiên, vai trò của người trực tiếp làm vẫn là quan trọng nhất. Các điều tra viên, kiểm sát viên căn cứ trường hợp cụ thể để có đề xuất áp dụng biện pháp này, tất nhiên không phải cứ đề xuất là được chấp nhận và người có trách nhiệm phải xem xét, xử lý vấn đề này.
LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)