1. Quy định về thực hiện biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt
Căn cứ theo quy định tại Điều 26 Thông tư 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP quy định về việc thực hiện biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt như sau:
- Quá trình thực hiện biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt, Thủ trưởng CQĐT cấp tỉnh, Thủ trưởng CQĐT quân sự cấp quân khu trở lên phải thường xuyên kiểm tra việc áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt, thông báo thông tin, tài liệu thu thập được bằng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt cho Viện trưởng VKS cùng cấp và thống nhất việc sử dụng, xử lý đối với thông tin, tài liệu thu thập được theo quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
- Trường hợp xét thấy cần gia hạn thời hạn áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt, thì trước khi hết thời hạn áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt 10 ngày, Thủ trưởng CQĐT cấp tỉnh, Thủ trưởng CQĐT quân sự cấp quân khu trở lên phải có văn bản nêu rõ lý do kèm theo chứng cứ, tài liệu là căn cứ đề nghị Viện trưởng VKS cùng cấp xem xét, quyết định việc gia hạn.
- Trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị kèm theo chứng cứ, tài liệu của Thủ trưởng CQĐT cấp tỉnh, Thủ trưởng CQĐT quân sự cấp quân khu trở lên, Viện trưởng VKS cùng cấp phải ra quyết định gia hạn hoặc không gia hạn hoặc có văn bản yêu cầu Thủ trưởng CQĐT cấp tỉnh, Thủ trưởng CQĐT quân sự cấp quân khu trở lên bổ sung chứng cứ, tài liệu để xét gia hạn thời hạn áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt.
Căn cứ theo quy định nêu trên, Thủ trưởng CQĐT phải kiểm tra, thông báo và thống nhất với VKS về việc thu thập, sử dụng thông tin, tài liệu. Trường hợp xét thấy cần gia hạn, thì trước khi hết thời hạn áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt 10 ngày, Thủ trưởng CQĐT phải có văn bản đề nghị VKS xem xét quyết định. Trong vòng 3 ngày kể từ khi nhận được đề nghị, VKS phải quyết định gia hạn, không gia hạn hoặc yêu cầu bổ sung tài liệu.
2. Thực trạng việc áp dụng, hủy bỏ các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt
Trong thực tế, việc thu thập chứng cứ của cơ quan điều tra có thể sử dụng nhiều biện pháp trinh sát khác nhau như trinh sát nội tuyến, trinh sát ngoại tuyến, và thậm chí khám xét bí mật, thu thập thông tin qua thư tín, điện tín. Tuy nhiên, các biện pháp này thường không được coi là chứng cứ do thiếu tính hợp pháp và dễ bị lạm dụng. Do đó, trong quá trình kiểm sát, các đơn vị kiểm sát phải chú ý đến những điều này để đảm bảo tính hợp pháp của chứng cứ thu thập.
Sau khi kiểm tra tài liệu và chứng cứ, so sánh với quy định tại Điều 223, Điều 224, Điều 225, Điều 226 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về thẩm quyền, đối tượng, điều kiện áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt cho từng trường hợp, Kiểm sát viên sẽ báo cáo cho Viện trưởng hoặc Phó Viện trưởng để quyết định phê chuẩn việc áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt nếu có đủ căn cứ. Trong trường hợp chưa rõ căn cứ, việc yêu cầu bổ sung tài liệu, chứng cứ sẽ được thực hiện để làm rõ và xem xét trước khi quyết định phê chuẩn. Nếu có đủ căn cứ và cần thiết áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt, nhưng cơ quan điều tra không ra quyết định, Kiểm sát viên thụ lý sẽ báo cáo cho Viện trưởng hoặc Phó Viện trưởng để yêu cầu cơ quan điều tra ra quyết định áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy, những biện pháp này đòi hỏi sự chuyên môn cao. Để thực hiện tốt, cần có nhiều người có kiến thức chuyên sâu, như kỹ sư tin học để đảm bảo chất lượng âm thanh và hình ảnh, chuyên gia ghi âm ghi hình, hay những chuyên gia sử dụng phần mềm nghe lén, hoặc có hiểu biết về ngành viễn thông.
Vì vậy, khi triển khai các biện pháp này, thường cần sự hỗ trợ từ bên ngoài, nhưng để tuân thủ quy định pháp luật về thẩm quyền áp dụng, việc liên kết giữa cơ quan điều tra và những người này cần phải được ràng buộc. Điều này có thể thông qua cơ chế ủy quyền hoặc hợp đồng, đồng thời phải tuân theo các quy định hợp pháp, bao gồm cả cam kết về việc bảo mật thông tin điều tra. Nếu cơ quan kiểm sát hoặc cơ quan điều tra cấp cao nhận thấy có dấu hiệu vi phạm bảo mật từ Thủ trưởng Cơ quan điều tra hoặc người thực hiện quyết định áp dụng biện pháp điều tra đặc biệt, có thể yêu cầu hoặc ra quyết định thay đổi người thực hiện hoặc hủy bỏ việc áp dụng biện pháp theo quy định của pháp luật.
Tuy nhiên, bởi tính bí mật tuyệt đối của các biện pháp này khi triển khai, thực tế cho thấy hoạt động kiểm sát chủ yếu dựa trên việc kiểm tra hồ sơ. Qua việc này, Kiểm sát viên có thể nắm rõ quy trình thực hiện thủ tục, biện pháp áp dụng, từ đó thu thập thông tin để chứng minh vi phạm.
Khi thu thập và bảo quản chứng cứ từ các biện pháp điều tra đặc biệt như âm thanh, hình ảnh, dữ liệu điện tử, VKS phải đảm bảo tuân thủ các nguyên tắc nghiệp vụ điều tra và bảo quản chứng cứ theo quy định của pháp luật.
Đối với chứng cứ âm thanh và hình ảnh, cần đảm bảo chất lượng, ổn định cao. Âm thanh thu được phải đáp ứng các tiêu chí về âm lượng, giảm nhiễu và đủ thông tin để giám định vận tốc, cường độ, trường độ, nhịp cộng hưởng, âm sắc... Hình ảnh cần có kích thước, độ rõ nét và góc quay phù hợp. Việc bảo quản chứng cứ này cũng phải đảm bảo tính toàn vẹn và khả năng so sánh với mẫu tham chiếu khi cần thiết.
Đối với việc thu thập dữ liệu điện tử bí mật, cần kiểm sát để xác nhận tính thật, khách quan, và nguồn gốc của dữ liệu. Việc lưu trữ và bảo quản dữ liệu từ các thiết bị như máy tính, điện thoại, email, USB... cần tuân theo quy định và được ghi nhận, niêm phong đúng quy trình. Quá trình phục hồi dữ liệu cũng phải đảm bảo tính toàn vẹn, kết quả phục hồi phải có ý nghĩa trong việc xác định tội phạm.
Phục hồi dữ liệu cần phải thực hiện trên bản sao, và kết quả phục hồi phải chuyển thành dạng có thể đọc, nghe hoặc nhìn được. Các dữ liệu này sẽ cung cấp thông tin quan trọng để xác định thông tin về hành vi phạm tội, thời gian, địa điểm và các yếu tố liên quan, từ đó xây dựng kế hoạch điều tra tội phạm và xác minh chứng cứ. Do đó, việc phục hồi và kiểm sát dữ liệu là hoạt động cực kỳ quan trọng và cần được thực hiện cẩn thận.
3. Quy định về thời hạn áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt
Căn cứ theo quy định tại Điều 226 Bộ luật Tố Tụng hình sự 2015 quy định thời hạn áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt như sau:
- Thời hạn áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt không quá 02 tháng kể từ ngày Viện trưởng Viện kiểm sát phê chuẩn. Trường hợp phức tạp có thể gia hạn nhưng không quá thời hạn điều tra theo quy định của Bộ luật này.
- Chậm nhất là 10 ngày trước khi hết thời hạn áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt, nếu xét thấy cần gia hạn thì Thủ trưởng Cơ quan điều tra đã ra quyết định áp dụng phải có văn bản đề nghị Viện trưởng Viện kiểm sát đã phê chuẩn xem xét, quyết định việc gia hạn.
Như vậy, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có thể áp dụng các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt không quá 02 tháng kể từ ngày được phê chuẩn. Nếu vụ án có tình tiết phức tạp có thể gia hạn nhưng không quá thời hạn điều tra theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.
Xem thêm: Công an được phép nghe lén điện thoại khi điều tra vụ án hình sự?
Như vậy trên đây là toàn bộ thông tin về Thực trạng áp dụng, hủy bỏ các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt mà Công ty Luật Minh Khuê muốn gửi đến quý khách mang tính tham khảo. Nếu quý khách còn vướng mắc về vấn đề trên hoặc mọi vấn đề pháp lý khác, quý khách hãy vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến theo số điện thoại 19006162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài kịp thời hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc.
Nếu quý khách cần báo giá dịch vụ pháp lý thì quý khách có thể gửi yêu cầu báo phí dịch vụ đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được thông tin sớm nhất! Rất mong nhận được sự hợp tác và tin tưởng của quý khách! Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn!