1. Khái quát chung

Bộ luật TTHS năm 2015 dành riêng Chương XVI từ Điều 223 đến Điều 228 để quy định về các  biện pháp điều tra tố tụng đặc  biệt, trong đó Điều 223  Bộ luật TTHS năm 2015 quy định: Sau khi khởi tố vụ án, trong quá trình điều tra, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có thể áp dụng các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt.
1. Ghi âm, ghi hình bí mật
2. Nghe điện thoại bí mật
3. Thu thập bí mật dữ liệu điện tử.
Theo đó, có ba biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt gồm: Ghi âm, ghi hình bí mật; Nghe điện thoại bí mật; Thu thập bí mật dữ liệu điện tử.  Điểm chung  nhất của 03 biện pháp này là được tiến hành bí mật.

2. Một số biện pháp điều tra đặc biệt

2.1 Ghi âm, ghi hình bí mật

Biện pháp điều tra đặc biệt đầu tiên là ghi âm, ghi hình bí mật. Trong BLTTHS không có giải thích thế nào là ghi âm, ghi hình bí mật, nhưng theo Điều 2 Thông tư số 03/2018/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BQP ngày 1/2/2018 của Bộ Công an, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Quốc phòng hướng dẫn về trình tự, thủ tục thực hiện ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh, sử dụng, ảo quản, lưu trữ kết quả ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh trong quá trình điều  tra, truy tố, xét  xử, thì Ghi âm hoặc  ghi  hình có âm thanh là việc sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật để ghi lại âm thanh hoặc hình ảnh có âm thanh trong quá trình hỏi cung bbị can; lấy lời khai người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phạm tội; lấy lời khai người làm chứng, người bị hại, đương sự; đối chất; tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố. Phương tiện, thiết bị kỹ thuật sử dụng để ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh là phương tiện, thiết bị ghi âm thanh hoặc ghi hình có âm thanh gồm: Thiết bị thu hình ảnh, âm thanh, đầu ghi hình, máy chủ, các phương tiện thiết bị kỹ thuật khác sử dụng để ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh. Phòng ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh tại cơ sở giam giữ, trụ sở Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra là phòng chuyên dụng bảo đảm đủ điều kiện về diện tích, ánh sáng, an toàn và được trang bị phương tiện, thiết bị kỹ thuật sử dụng để ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh đạt chất lượng về âm thanh và hình ảnh. Cán bộ chuyên môn là cán bộ thuộc biên chế của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, có trình độ chuyên môn kỹ thuật và sử dụng thành thạo các phương tiện, thiết bị kỹ thuật ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh, có trách nhiệm quản lý hệ thống phương tiện, thiết bị kỹ thuật sử dụng để ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh và bảo quản, lưu trữ kết quả dữ liệu ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh.
Như vậy, ghi âm, ghi hình có âm thanh công khai (không bí mật) trong hoạt động tố tụng hình sự là việc sử dụng phương tiện, thiết ị kỹ thuật để ghi lại âm thanh hoặc hình ảnh có âm thanh đối với những đối tượng nhất định những thiết ị thu hình ảnh, âm thanh, đầu ghi hình, máy chủ, các phương tiện thiết ị kỹ thuật khác sử dụng để ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh tại các cơ sở giam giữ, trụ sở Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra do người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thực hiện.
Căn cứ vào quy định này, biện pháp ghi âm, ghi hình bí mật chỉ được sử dụng trong giai đoạn điều tra là việc sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật để ghi lại âm thanh hoặc hình ảnh đối với những đối tượng ị điều tra được tiến hành tại   ất kỳ nơi nào (không nhất thiết phải ở các cơ sở giam giữ, trụ sở Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra) để nắm được các hoạt động tội phạm của người phạm tội, cũng như sự đi lại, quan hệ, diễn iến, thái độ không ình thường, những iểu hiện hoạt động như tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, che dấu hoặc xóa dấu vết tội phạm hoặc có dấu hiệu ỏ trốn…nh m thu thập chứng cứ phục vụ cho hoạt động chứng minh tội phạm. Các hoạt động ghi âm, ghi hình này được tiến hành bí mật mà các đối tượng  bị ghi âm,  bị ghi hình và những người khác  không có trách nhiệm thì không thể iết được hoạt động này của cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.

2.2 Nghe điện thoại bí mật

Biện pháp điều tra đặc biệt tiếp theo là: nghe điện thoại  bí  mật. Trong  thời đại hiện nay, điện thoại được sử dụng như một phương tiện phục vụ cho việc giao tiếp, truyền đạt thông tin giữa mọi người một cách nhanh chóng và thuận lợi. Những đối tượng phạm tội thường sử dụng điện thoại để thông tin cho nhau những việc có liên quan đến việc thực hiện tội phạm. Do vậy, việc nghe được những thông tin này là rất quan trọng để các cơ quan điều tra có phản ứng kịp thời, không chỉ ngăn chặn tội phạm mà còn giúp cho việc điều tra, thu thập chứng cứ được nhanh chóng trong giải quyết vụ án.
Cũng như là ghi âm, ghi hình bí mật, nghe điện thoại bí mật được hiểu là sử dụng các thiệt bị nghe được các cuộc gọi điện thoại của các đối tượng nói chuyện với nhau mà chúng không thể iết được.Việc nghe điện thoại bí mật có thể sử dụng qua nhiều phương pháp như mã hóa thiết bị nghe điện thoại, phối hợp với tổng đài mạng hoặc gắn thiết ị nghe bí mật tại nơi đối tượng thường cư trú. hần mềm nghe lén điện thoại là một ứng dụng điện thoại cho phép ạn nghe lén điện thoại, theo dõi các cuộc gọi đến, gọi đi, nghe lén ghi âm các cuộc gọi trên điện thoại của đối tượng và được coi như một phần mềm gián điệp.
Để phục vụ công tác điều tra, phòng chống tội phạm, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có quyền yêu cầu các doanh nghiệp viễn thông cung cấp thông tin liên quan đến người sử dụng dịch vụ viễn thông. Nội dung, khối lượng, phạm vi thông tin yêu cầu cung cấp phải phù họp với quy định, khả năng lưu trữ, và phải đảm ảo an toàn (không gây sự cố) cho mạng viễn thông đang vận hành. Thông thường, nghe điện thoại bí mật được ghi âm bí mật để các cơ quan có thẩm quyền sử dụng không phải một lần để phục vụ công tác điều tra, truy bắt, truy tìm dấu vết tội phạm.

2.3 Thu thập bí mật dữ liệu điện tử

Biện pháp điều tra đặc biệt được sử dụng trong giai đoạn điều tra là thu thập bí mật dữ liệu điện tử.
Theo quy định của Điều 99 BLTTHS, Dữ liệu điện tử là ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự được tạo ra, lưu trữ, truyền đi hoặc nhận được bởi phương tiện điện tử. Dữ liệu điện tử được thu thập từ phương tiện điện tử, mạng máy tính, mạng viễn thông, trên đường truyền và các nguồn điện tử khác. Giá trị chứng cứ của dữ liệu điện tử được xác định căn cứ vào cách thức khởi tạo, lưu trữ hoặc truyền gửi dữ liệu điện tử; cách thức bảo đảm và duy trì tính toàn vẹn của dữ liệu điện tử; cách thức xác định người khởi tạo và các yếu tố phù hợp khác. Mặc dù dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các phương tiện điện tử, mạng máy tính, mạng viễn thông, trên đường truyền và các nguồn điện tử khác, nhưng để trở thành chứng cứ vụ án cần tuân thủ quy trình thu thập chứng cứ trong tố tụng hình sự, có nghĩa khi thu thập chứng cứ được chữa đựng trong dữ liệu điện tử cần phải lập iên ản theo đúng quy định, nêu rõ nguồn điện tử được thu thập; nội dung dữ liệu điện tử; hình thức của dữ liệu điện tử là những tài liệu phải đọc được, nghe được, nhìn được và thể hiện ở những ản cứng kèm theo ản mềm và được lưu giữ trong hồ sơ vụ án. Các tài liệu nghe được, nhìn được được coi là chứng cứ nếu được xuất trình kèm theo văn ản xác nhận xuất xứ của tài liệu đó. Do vậy, về bản chất, dữ liệu điện tử được lưu và truyền đi bởi thiết  bị có  bộ nhớ kỹ thuật số, có thể phục hồi, phân tích, tìm được dữ liệu, kể cả đã bị xóa, bị ghi đè, dưới dạng ẩn, đã mã hóa, có thể đọc được, nhìn thấy được, ghi lại, sử dụng làm chứng cứ. Có thể phân chia dữ liệu điện tử thành 02 loại:
- Một là: Dữ liệu điện từ do máy tính tự động tạo ra như: “cookies”, “URL”, E-mail logs, webserver logs, firewallserver logs, I , thông tin truy cập, we site, mã độc..., chứng minh về nguồn gốc truy cập, tấn công vào we  site,  cơ sở dữ liệu, thư điện tử, tài khoản, dấu vết hoạt động của thủ phạm (cài trojan, keylogger, sniffer nghe lén, lấy cắp dữ liệu...);
- Hai là: Dữ liệu điện tử do người sử dụng tạo ra như văn bản, bảng biểu, hình ảnh, thông tin... Trong file dữ liệu còn có thể tìm được siêu dữ liệu (thông tin về cá nhân, tổ chức liên quan đến dữ liệu metadata), có giá trị chứng minh về người và máy tính đã tạo ra dữ liệu, nguồn gốc dữ liệu.
Dữ liệu điện tử được lưu trữ trên các phương tiện điện tử (như máy tính, điện thoại di động, các thiết ị ghi âm, ghi hình, các thiết ị lưu trữ: thẻ nhớ, USB, ổ cứng, ổ đĩa quang…) hoặc được lưu trên mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc đường truyền internet (như trong hộp thư điện tử, phần mềm liên lạc viễn thông -Facebook, Zalo, Skyper, Messenger, Vi er…hay nick chat của tội phạm).
Cho nên, thu thập bí mật dữ liệu điện tử là việc ghi nhận hình ảnh với độ phân giải tốt, âm thanh chất lượng và những thông tin, tài liệu khác, đồng thời đảm ảo yếu tố  bí mật với đối tượng  ị áp dụng và những người không liên  quan không thể iết được.
So với các  biện pháp điều tra  bí mật mà pháp luật quốc tế khuyến nghị   sử dụng, nhà làm luật Việt Nam mới chỉ ước đầu thừa nhận những biện pháp  cơ ản, thiết yếu. Ngoài ra, còn có các biện pháp phổ iến chưa được thừa nhận là: khám xét  bí mật, nhận dạng  í  mật; xem xét  bí mật các dấu vết tội phạm   trên thân thể v.v… cũng như việc đưa người thâm nhập tổ chức và tiếp cận cá nhân phạm tội để thu thập chứng cứ.
Thời điểm để áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc  biệt là sau khi khởi  tố vụ án hình sự, nếu cơ quan chuyên trách của lực lượng Công an nhân dân áp dụng những biện pháp tương tự trước khi khởi tố thì phải xác định đó là các biện pháp nghiệp vụ trinh sát bí mật và kết quả đó phải chuyển hóa nếu muốn  sử dụng thành giá trị chứng cứ, chứng minh trong hoạt động khởi tố, điều tra.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty Luật Minh Khuê