- 1. Các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt được quy định trong pháp luật quốc tế như thế nào?
- 2. Vì sao gọi là các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt?
- 3. Kinh nghiệm quốc tế về áp dụng biện pháp điều tra đặc biệt trong đấu tranh chống tham nhũng
- 4. Sự cần thiết luật hóa biện pháp điều tra đặc biệt đối với tội phạm tham nhũng
- 5. Các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt trong Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam
1. Các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt được quy định trong pháp luật quốc tế như thế nào?
Trong pháp luật quốc tế, biện pháp điều tra đặc biệt được ghi nhận trong một số điều ước quốc tế mà tiêu biểu nhất là Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia và Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng.
Theo Điều 20 Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, biện pháp điều tra đặc biệt được khuyến nghị gồm một nhóm các biện pháp điều tra khác nhau, như: vận chuyển có kiểm soát, các hình thức giám sát, hoạt động sử dụng lực lượng bí mật.
2. Vì sao gọi là các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt?
Gọi là biện pháp điều tra đặc biệt, các nhà làm luật quốc tế muốn khẳng định:
- Đây là những biện pháp điều tra khám phá tội phạm “đặc biệt’ vì chúng hạn chế nhất định tối quyền tự do cá nhân, không được áp dụng rộng rãi và do đó chúng khác biệt với các biện pháp điều tra thông thường khác (ở đối tượng áp dụng, chủ thể áp dụng, thủ tục, trình tự áp dụng và hậu quả pháp lý).
- Tuy là biện pháp đặc biệt nhưng chúng được Nhà nước cho phép áp dụng trong những điều kiện nhất đỉnh xuất phát từ sự cân nhắc giữa lợi ích của việc điều tra, phát hiện tội phạm và trách nhiệm bảo vệ quyền con người, quyền công dân của chính Nhà nước.
- Kết quả điều tra sẽ được sử dụng làm chứng cứ chứng minh tội phạm (và cả sự vô tội của bị can), nhất là trong các vụ án phức tạp, nghiêm trọng mà chứng cứ thu được bằng biện pháp điều tra thông thường là không thể hoặc không đầy đủ.
3. Kinh nghiệm quốc tế về áp dụng biện pháp điều tra đặc biệt trong đấu tranh chống tham nhũng
Tham khảo luật tố tụng hình sự của một số quốc gia, trong đó có những quốc gia có những thể chế chính trị giống Việt Nam như Trung Quốc, hay quốc gia trước đây có nền tư pháp giống chúng ta như Nga, Hungary và cả những quốc gia tiên tiến hơn như Đức, Pháp, Mỹ… Tất cả các quốc gia này đều có quy định biện pháp điều tra đặc biệt. Đó là các biện pháp theo dõi bí mật; ghi âm, ghi hình bí mật; chặn và ghi âm các cuộc liên lạc viễn thông; thu thập bí mật dữ liệu điện tử; khám bí mật chỗ ở; sử dụng trinh sát hoặc cộng tác viên bí mật; kiểm tra giấy tờ; lập chốt giả để kiểm tra giao thông…
Hơn nữa, Việt Nam đã tham gia nhiều Công ước của Liên hợp quốc, trong đó có công ước về đấu tranh chống tội phạm tham nhũng, ma túy, chống tội phạm có tổ chức. Chúng ta đã cam kết sẽ luật hóa biện pháp điều tra đặc biệt này, cho nên việc bàn và tiến tới đưa một chương quy định biện pháp điều tra đặc biệt trong Bộ luật tố tụng hình sự là một đòi hỏi tất yếu của việc thực hiện các cam kết quốc tế.
Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng (UNCAC) cũng đòi hỏi mọi quốc gia phải áp dụng các biện pháp cần thiết, đủ mạnh và biện pháp này cũng là một biện pháp đặc biệt. Các biện pháp điều tra đặc biệt được UNCAC nhấn mạnh về tầm quan trọng trong việc đấu tranh phòng, chống các tội phạm, đặc biệt là các tội phạm ma túy, các tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia và tội phạm tham nhũng. Theo thống kê, xu hướng áp dụng các biện pháp này của các quốc gia trên thế giới ngày càng tăng do tính chất, mức độ vi phạm ngày càng nghiêm trọng; thủ đoạn, hành vi phạm tội ngày càng tinh vi; người phạm tội trong các vụ án tham nhũng là người có chức vụ, quyền hạn nên thường tìm mọi cách che giấu hành vi, can thiệp vào quá trình xử lý...
Mặc dù vậy, việc áp dụng các biện pháp này vẫn được cảnh báo là cần thận trọng để tránh vi phạm quyền con người và đảm bảo giá trị về mặt chứng cứ của các dữ liệu thu được. Bởi vậy, việc áp dụng các biện pháp này chỉ giới hạn đối với một số nhóm tội rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng, kèm theo là quy định chặt chẽ về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, cũng như có cơ chế kiểm soát như phê chuẩn của viện kiểm sát hoặc của tòa án.
Theo UNCAC và kinh nghiệm của nhiều quốc gia thành viên, các biện pháp điều tra đặc biệt bao gồm: kiểm soát vận chuyển (thường áp dụng trong các trường hợp qua biên giới và trong các vụ án ma túy); giám sát, theo dõi điện tử (theo dõi điện thoại, thư điện tử...); giám sát, theo dõi đối tượng (theo dõi đối tượng tình nghi); hoạt động tình báo, hoạt động “chìm”; kiểm tra liêm chính; giám sát giao dịch tài chính và một số biện pháp khác. Qua đánh giá không đầy đủ, thì các biện pháp này rất có hiệu quả trong việc thu thập thông tin, đấu tranh phòng, chống tham nhũng tại một số quốc gia. Việc áp dụng các biện pháp này cũng giúp xử lý “sớm” hành vi có dấu hiệu tham nhũng và giúp các cơ quan tiến hành tố tụng có được thông tin và chủ động trong việc áp dụng các biện pháp phong tỏa, tạm giữ, kê biên để thu hồi tài sản tham nhũng.
Tuy nhiên, việc quy định và áp dụng biện pháp này sẽ có hai mặt của nó mà cơ quan áp dụng phải lưu ý, đó là: Quy định sẽ góp phần nâng cao khả năng, hiệu quả phát hiện, điều tra tội phạm, phòng, chống tham nhũng, nhưng phải làm thế nào để không lạm dụng biện pháp này, không xâm phạm quyền tự do riêng tư, quyền con người là vấn đề quan trọng. Cần trả lời được các câu hỏi cụ thể sau: Biện pháp điều tra đặc biệt được áp dụng với ai? Thời hạn áp dụng bao lâu? Ai là người ra quyết định áp dụng và người có thẩm quyền phê chuẩn quyết định áp dụng?
Phải có hướng dẫn thật cụ thể đối tượng và trường hợp nào, bối cảnh nào cần áp dụng, nếu áp dụng tràn lan thì người dân sẽ bị xâm phạm quyền tự do riêng tư. Luật cần quy định ngắn gọn nên quá trình triển khai, cơ quan có trách nhiệm phải hướng dẫn cụ thể ngay vì đây là chế định mới. Viện Kiểm sát phải tăng cường kiểm sát việc áp dụng những biện pháp này; Tòa án khi xét xử cũng vậy, cần xem xét các chứng cứ có trong vụ án có được thu thập theo đúng quy định hay không? Tuy nhiên, vai trò của người trực tiếp làm vẫn là quan trọng nhất. Các điều tra viên, kiểm sát viên căn cứ trường hợp cụ thể để có đề xuất áp dụng biện pháp này, tất nhiên không phải cứ đề xuất là được chấp nhận và người có trách nhiệm phải xem xét, xử lý vấn đề này.
4. Sự cần thiết luật hóa biện pháp điều tra đặc biệt đối với tội phạm tham nhũng
Việc luật hóa các biện pháp điều tra đặc biệt trong Bộ luật tố tụng hình sự 2015 là cần thiết, nhằm cụ thể hóa yêu cầu của Hiến pháp năm 2013 “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật”; tạo điều kiện cho Cơ quan điều tra chủ động thu thập chứng cứ, xác định đối tượng tình nghi phạm tội trong quá trình điều tra các vụ án phức tạp, có tổ chức, đặc biệt nghiêm trọng và để tránh nhầm lẫn thì không nên quy định cả biện pháp nghiệp vụ trinh sát thông thường là biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt; tạo cơ sở pháp lý để thực thi các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, tháo gỡ những vướng mắc trong thực tiễn đấu tranh chống tội phạm hiện nay, mở rộng nguồn chứng cứ có giá trị trực tiếp chứng minh tội phạm.
Đồng thời, trong bối cảnh hiện nay, quá trình điều tra theo luật hiện hành tỏ ra không thật hiệu quả, nhất là đối với một số loại tội phạm như tham nhũng. Tham nhũng rất nhiều nhưng phát hiện, xử lý được rất ít, nhất là việc thu hồi tài sản tham nhũng. Lý do có lẽ cũng do thiếu thiết chế đặc thù để phát hiện, thu thập chứng cứ đưa ra ánh sáng những vụ việc tham nhũng. Do đó, cần quy định các biện pháp điều tra đặc biệt này.
Việc thu thập chứng cứ qua các biện pháp như ghi âm, ghi hình bí mật, nghe điện thoại bí mật, thu thập bí mật dữ liệu điện tử,... có thể nói trong nhiều trường hợp, đây là nguồn chứng cứ có giá trị chứng minh tội phạm trực tiếp. Trước đây, các biện pháp này không quy định trong luật thì phải tiến hành thủ tục chuyển hóa chứng cứ, trong nhiều trường hợp thì không thể chuyển hóa được và như vậy đã từ chối một nguồn chứng cứ hết sức thuyết phục, thậm chí người phạm tội phải tâm phục, khẩu phục ngay. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, đây là nguồn chứng cứ rất quý để chứng minh tội phạm.
Trước khi thông qua Bộ luật tố tụng hình sự (sửa đổi) 2015, pháp luật Việt Nam cũng có quy định trong một số luật chuyên ngành cho phép áp dụng biện pháp này đối với một số loại tội là các tội xâm phạm an ninh quốc gia và tội phạm ma túy. Tuy nhiên, để đảm bảo tính hiệu lực pháp lý thì các biện pháp điều tra đặc biệt phải được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự.
5. Các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt trong Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam
Bộ luật tố tụng hình sự 2015 của Việt Nam có một chương riêng quy định về các biện pháp điều tr tố tụng đặc biệt. Theo quy định tại Điều 223 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt gồm: Ghi âm, ghi hình bí mật; nghe điện thoại bí mật; thu thập bí mật dữ liệu điện tử. Trong đó, ghi âm bí mật là biện pháp ghi lại nội dung của cuộc trò chuyện, trao đổi của các đối tượng tình nghi trong vụ án với nhau; ghi lại cuộc nói chuyện giữa đối tượng tình nghi với người tố giác tội phạm... Ghi hình bí mật là biện pháp ghi lại hình ảnh của đối tượng nghi vấn có hành vi phạm tội để chứng minh, làm rõ diễn biến, tính chất của hành vi phạm tội. Nghe điện thoại bí mật là biện pháp nghe và có thể ghi lại lời nói của đối tượng nghi vấn để bổ sung chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của đối tượng nghi vấn. Biện pháp nghe điện thoại bí mật có thể ghi lại cuộc trao đổi, bàn bạc của đối tượng khi chuẩn bị thực hiện hành vi phạm tội, các biểu hiện trong quá trình cũng như khi đã thực hiện hành vi phạm tội. Thu thập bí mật dữ liệu điện tử là thu thập một cách bí mật các thông tin dưới dạng điện tử như: Ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh được tạo ra, lưu trữ, truyền đi bởi phương tiện điện tử. Dữ liệu điện tử có thể được mã hóa, được ẩn đi bởi sự chủ ý của người dùng, nhất là đối với các tội phạm sử dụng công nghệ cao khi người phạm tội thường tìm mọi cách để che giấu những thông tin, tài liệu liên quan đến hành vi phạm tội của mình.
LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)