- 1. Các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt có vai trò quan trọng trong giải quyết vụ án hình sự
- 2. Quy định các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt nhằm bảo đảm hiến định
- 3. Việc ghi nhận các biện pháp điều tra đặc biệt vào BLTTHS góp phần tăng cường hiệu quả công tác điều tra
- 4. Quy định biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt nhằm bảo đảm tính minh bạch của pháp luật
- 5. Quy định biện pháp điều tra đặc biệt trong BLTTHS Việt Nam nhằm thực hiện các cam kết quốc tế
- 6. Kết luận
1. Các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt có vai trò quan trọng trong giải quyết vụ án hình sự
Trước hết, phải thừa nhận rằng, các biện pháp điều tra đặc biệt là biện pháp rất hiệu quả trong phát hiện, điều tra thu thập chứng cứ về tội phạm và người phạm tội. Đặc biệt, trong thời đại phát triển khoa học - công nghệ nhanh chóng như hiện nay, hầu như không một quốc gia nào lại không cho phép sử dụng các biện pháp này trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, nhất là đối với các loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, tội phạm có tổ chức, tội phạm sử dụng khoa học - công nghệ cao…
Ví dụ: Đối với các vụ án ma túy phạm tội có tổ chức chặt chẽ, phương thức, thủ đoạn phạm tội và che dấu tội phạm hết sức tinh vi, xảo quyệt, đối tượng phạm tội thường ngoan cố, chống đối đến cùng, thiếu hợp tác với cơ quan tố tụng dẫn tới các biện pháp điều tra tố tụng thông thường không mang lại hiệu quả hay hiệu quả thấp mới được áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt. Biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt cho phép Cơ quan điều tra thu thập tài liệu, chứng cứ trực tiếp chứng minh tội phạm, xác định nhanh chóng, chính xác, toàn diện vụ án, chứng minh tội phạm và người phạm tội, truy nguyên tài sản liên quan đến hoạt động phạm tội về ma túy.
2. Quy định các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt nhằm bảo đảm hiến định
Hầu hết các biện pháp điều tra đặc biệt, trong chừng mực khác nhau, đều hạn chế một hoặc một số quyền con người, quyền công dân nào đó. Và theo nguyên tắc Hiến định thì việc hạn chế quyền con người, quyền công dân phải bằng các quy định của luật do Quốc hội ban hành. Quy định việc áp dụng biện pháp điều tra đặc biệt trong Bộ luật tố tụng hình sự cũng nhằm bảo đảm yêu cầu đó.
Lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến Việt Nam, một nguyên tắc chung về giới hạn quyền với tính cách là tư tưởng chủ đạo, định hướng cho việc xác định giới hạn đối với tất cả các quyền (cần thiết và có thể) đã được quy định tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013: “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khoẻ của cộng đồng”.
Nguyên tắc giới hạn quyền được quy định như vậy, cho dù đã hoàn toàn phù hợp với luật nhân quyền quốc tế hay chưa thì đây vẫn được coi là điểm sáng rực rỡ nhất, thể hiện sự tiến bộ, phát triển vượt bậc trong chế định quyền cơ bản của Hiến pháp năm 2013.
Hiến pháp năm 2013 quy định nguyên tắc về giới hạn quyền trước hết thể hiện quan niệm của các nhà lập hiến Việt Nam về bản chất của quyền con người, quyền công dân. Theo đó, quyền con người tuy mang tính tự nhiên, vốn có và không phải có ai ban phát cho chủ thể các quyền đó nhưng cũng không phải mọi quyền đều có ý nghĩa tuyệt đối và không phải trong mọi trường hợp đều có thể thực hiện (hưởng thụ) quyền một cách tuyệt đối. Bởi lẽ, con người hoặc công dân sinh ra và sống, hưởng thụ các quyền trong một cộng đồng xã hội. Các quyền tuy là của cá nhân mỗi con người hoặc công dân nhưng không thể đối lập, loại trừ, hay xâm hại cho quyền của cá nhân khác hay những lợi ích của cộng đồng. Nói cách khác, vì lợi ích chung, trong những trường hợp cần thiết, quyền con người, quyền công dân có thể bị giới hạn. Với tính cách là luật cơ bản, Hiến pháp phải vạch rõ, hiến định nguyên tắc của việc giới hạn này. Việc quy định một nguyên tắc cho việc giới hạn quyền trong Hiến pháp mang hai ý nghĩa sau: (1) xác lập tiêu chí để sự giới hạn quyền được chính đáng, tránh sự tuỳ tiện trong hoạt động của bộ máy nhà nước làm triệt tiêu, vô hiệu hoá hay giảm ý nghĩa của quyền; (2) bảo đảm tính hiện thực của quyền vì sự giới hạn đối với quyền con người, quyền công dân là một giải pháp được lựa chọn cuối cùng khi không có giải pháp nào khác phù hợp hơn. Trên tinh thần đó, suy cho cùng, nguyên tắc giới hạn quyền cũng nhằm mục đích tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Vì thế, liền ngay trước khi ghi nhận nguyên tắc giới hạn quyền, khoản 1 Điều 14 Hiến pháp năm 2013 đã long trọng tuyên bố: “Ở nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm theo Hiến pháp và luật”.
Nguyên tắc giới hạn quyền trong Hiến pháp năm 2013 không chỉ là nguyên tắc cho chế định quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong Hiến pháp (Chương II) mà còn là nguyên tắc cho cả bản Hiến pháp và cũng là nguyên tắc chung cho cả hệ thống pháp luật.
Do vậy, việc ghi nhận các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt vào Bộ luật tố tụng hình sự là thật sự cần thiết.
3. Việc ghi nhận các biện pháp điều tra đặc biệt vào BLTTHS góp phần tăng cường hiệu quả công tác điều tra
Là những biện pháp thu thập chứng cứ, khi được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự, các biện pháp này sẽ tăng cường hiệu lực và hiệu quả cho công tác điều tra. Các chứng cứ được thu thập hợp pháp sẽ không cần phải qua giai đoạn chuyển hóa, mà được sử dụng trực tiếp để chứng minh tội phạm.
Theo quy định tại Điều 223 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015, các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt gồm: Ghi âm, ghi hình bí mật; nghe điện thoại bí mật; thu thập bí mật dữ liệu điện tử. Trong đó, ghi âm bí mật là biện pháp ghi lại nội dung của cuộc trò chuyện, trao đổi của các đối tượng tình nghi trong vụ án với nhau; ghi lại cuộc nói chuyện giữa đối tượng tình nghi với người tố giác tội phạm... Ghi hình bí mật là biện pháp ghi lại hình ảnh của đối tượng nghi vấn có hành vi phạm tội để chứng minh, làm rõ diễn biến, tính chất của hành vi phạm tội. Nghe điện thoại bí mật là biện pháp nghe và có thể ghi lại lời nói của đối tượng nghi vấn để bổ sung chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của đối tượng nghi vấn. Biện pháp nghe điện thoại bí mật có thể ghi lại cuộc trao đổi, bàn bạc của đối tượng khi chuẩn bị thực hiện hành vi phạm tội, các biểu hiện trong quá trình cũng như khi đã thực hiện hành vi phạm tội. Thu thập bí mật dữ liệu điện tử là thu thập một cách bí mật các thông tin dưới dạng điện tử như: Ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh được tạo ra, lưu trữ, truyền đi bởi phương tiện điện tử. Dữ liệu điện tử có thể được mã hóa, được ẩn đi bởi sự chủ ý của người dùng, nhất là đối với các tội phạm sử dụng công nghệ cao khi người phạm tội thường tìm mọi cách để che giấu những thông tin, tài liệu liên quan đến hành vi phạm tội của mình. Thông tin, tài liệu thu thập được bằng việc áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt có thể dùng làm chứng cứ để giải quyết vụ án.
4. Quy định biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt nhằm bảo đảm tính minh bạch của pháp luật
Việc quy định rõ ràng, chặt chẽ biện pháp điều tra đặc biệt trong Bộ luật tố tụng hình sự vừa bảo đảm tính minh bạch của pháp luật, nhất là trong lĩnh vực tố tụng hình sự, đồng thời, cũng là cách để ngăn ngừa sự tùy tiện, lạm dụng các biện pháp này trong thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm.
Đây là những biện pháp điều tra có tính chất nhạy cảm, khi thực hiện sẽ có thể có những tác động lớn tới các quyền cơ bản của con người, của công dân. Đặc biệt là quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác.
Quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác: Không ai được bóc mở, kiểm soát, thu giữ trái luật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư của người khác (đoạn 2 khoản 2 Điều 21). Điểm mới trong việc giới hạn đối với quyền này là sự giới hạn bằng luật chứ không phải giới hạn bởi pháp luật như Hiến pháp năm 1992 (Điều 73). Mặt khác, phạm vi quyền được mở rộng hơn, không chỉ bất khả xâm phạm quyền riêng tư qua các đối tượng như thư tín, điện thoại, điện tín mà là bất kỳ hình thức trao đổi thông tin riêng tư nào.
Quy định biện pháp điều tra đặc biệt trong Bộ luật tố tụng hình sự không làm triệt tiêu việc áp dụng các biện pháp này với tư cách là các biện pháp nghiệp vụ chuyên ngành được quy định trong các luật về tổ chức và quản lý hoạt động của cơ quan nhà nước (như Luật Công an nhân dân, Luật an ninh quốc gia, Luật hải quan, Luật phòng, chống khủng bố). Mặt khác, đây cũng thể hiện luật hóa chủ trương “Gắn trinh sát với điều tra” trong hoạt động điều tra tội phạm đã được đề cập nhiều lần trong các nghị quyết của Đảng.
5. Quy định biện pháp điều tra đặc biệt trong BLTTHS Việt Nam nhằm thực hiện các cam kết quốc tế
Quy định biện pháp điều tra đặc biệt trong Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam còn là minh chứng cho việc thực hiện các cam kết quốc tế về tăng cường đấu tranh với một số loại tội phạm nghiêm trọng trên cơ sở vẫn bảo đảm quyền con người, quyền công dân, tạo điều kiện tốt cho việc hội nhập và hợp tác quốc tế.
Trong pháp luật quốc tế, biện pháp điều tra đặc biệt được ghi nhận trong một số điều ước quốc tế mà tiêu biểu nhất là Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia và Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng.
Năm 2000, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua Công ước Quốc tế của Liên hợp quốc về tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia (UNTOC) cùng các Nghị định thư kèm theo, và Công ước đã có hiệu lực vào năm 2003. Với 186 quốc gia thành viên, Công ước UNTOC là một trong những hiệp ước được phê chuẩn rộng rãi nhất về vấn đề pháp luật hình sự quốc tế. Việt Nam trở thành thành viên của Công ước vào ngày 8-6-2012.
Theo Điều 20 Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, biện pháp điều tra đặc biệt được khuyến nghị gồm một nhóm các biện pháp điều tra khác nhau, như: vận chuyển có kiểm soát, các hình thức giám sát, hoạt động sử dụng lực lượng bí mật.
Để thực hiện các cam kết quốc tế khi đã tham gia Công ước thì Việt Nam phải nội luật hóa các quy định trong Công ước vào pháp luật quốc gia.
6. Kết luận
Như vậy, về tổng thể, việc quy định các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt trong Bộ luật tố tụng hình sự là hữu dụng và cần thiết. Tuy nhiên, vấn đề quan trọng không kém là quy đỊnh như thế nào để một mặt, các biện pháp này phát huy hiệu lực và hiệu quả, mặt khác, không vì việc áp dụng chúng mà gây thiệt hại lớn hơn cho lợi ích chung và lợi ích hợp pháp của từng cá nhân mà pháp luật tố tụng hình sự cũng là một công cụ bảo vệ. Vì vậy, các biện pháp này không chỉ quy định ở phạm vi cần và đủ, mà còn phải thiết lập một loạt các giới hạn, các ràng buộc để chúng không thể bị lợi dụng và lạm dụng. Những giới hạn, ràng buộc trong việc áp dụng các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt với tư cách là biện pháp điều tra tố tụng sẽ là:
- Về biện pháp áp dụng: chỉ giới hạn ở các biện pháp bí mật thu thập thông tin (chứng cứ) bí mật bằng phương tiện kỹ thuật.
- Về đối tượng áp dụng: chỉ áp dụng đối với người bị tình nghi, với bị can (người đã bị khởi tố, bị buộc tội) ở các loại tội nhất định và phạm tội đặc biệt nghiêm trọng có tổ chức.
- Về chủ thể được quyền áp dụng: cần phân loại chủ thể là người có quyền quyết định, người có quyền phê chuẩn quyết định và người trực tiếp thực hiện quyết định. Trong luật tố tụng hình sự, chỉ quy định Thủ trưởng Cơ quan điều tra có thẩm quyền mới được quyết định và quyết định của Thủ trưởng Cơ quan điều tra phải được chính Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn. Trong trường hợp này, người thực hiện sẽ là cơ quan, tổ chức, cá nhân được người ra quyết định chỉ định. Bên cạnh đó, cũng cần có những quy định ràng buộc các chủ thể này giữ bí mật thông tin và tiêu hủy thông tin không cần thiết.
- Thời hạn áp dụng cần giới hạn tối đa là thời hạn điều tra và thời hạn truy tố; đối với việc áp dụng biện pháp kỹ thuật đặc biệt thì thời hạn áp dụng là 02 tháng và có thể gia hạn thêm nhưng vẫn không quá thời hạn điều tra, truy tố.
LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)