quy định tại Chương XVI Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 (BLTTHS).

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Hình sự của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi:  1900.6162

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Thế nào là biện pháp điều tra Tố tụng hình sự đặc biệt

Các biện pháp điều tra tố tụng hình sự đặc biệt, theo quy định tại Điều 223 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 gồm: Ghi âm, ghi hình bí mật; Nghe điện thoại bí mật; Thu thập bí mật dữ liệu điện tử.

Điều 223. Các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt

Sau khi khởi tố vụ án, trong quá trình điều tra, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có thể áp dụng các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt:

1. Ghi âm, ghi hình bí mật;

2. Nghe điện thoại bí mật;

3. Thu thập bí mật dữ liệu điện tử.

Xem xét quy định trên, chúng ta biết rằng, một trong các nguyên tắc cơ bản của Bộ luật Tố tụng Hình sự đó là nguyên tắc bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín của cá nhân. Cho nên chính việc tiến hành các hoạt động ghi âm, ghi hình, thu thập thông tin, dữ liệu một cách bí mật đã khiến các biện pháp điều tra này được đưa vào diện các biện pháp điều tra đặc biệt.

Các biện pháp này đặc biệt ở chỗ nếu áp dụng đúng theo trình tự, thủ tục luật định thì các hoạt động điều tra sẽ không bị coi là vi phạm nguyên tắc cơ bản của BLTTHS. Và ngược lại, nếu không có quy định chặt chẽ thì có thể dẫn tới việc lạm dụng chính các biện pháp điều tra này để xâm phạm bí mật thư tín, điện tử, và các bí mật khác của cá nhân.

2. Khái niệm các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt

Các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt không được định nghĩa trong Bộ luật Tố tụng Hình sự. Việc không định nghĩa "ghi âm, ghi hình bí mật là gì? Nghe điện thoại bí mật là gì? Hay thu thập bí mật dữ liệu là gì? có lẽ bởi các thuật ngữ này thực sự khá dễ hiểu mà không cần phải định nghĩa. Cụ thể như sau:

- Ghi âm bí mật là biện pháp ghi lại nội dung của cuộc trò chuyện, trao đổi của các đối tượng tình nghi trong vụ án với nhau hoặc cuộc nói chuyện giữa đối tượng tình nghi với cá nhân khác về vụ án,.... Việc ghi âm được thực hiện một cách bí mật, không công khai cho các đối tượng bị ghi âm biết. Chính tính bí mật khi tiến hành đã khiến biện pháp ghi âm đặc biệt này khác với hoạt động ghi âm khi hỏi cung bị can hoặc các hoạt động ghi âm công khai khác.

- Ghi hình bí mật là ghi lại hình ảnh của đối tượng nghi vấn có hành vi phạm tội để chứng minh, làm rõ diễn biến, tính chất của hành vi phạm tội. Việc ghi hình này cũng được tiến hành một cách bí mật và các đối tượng bị ghi hình cũng không được biết về việc ghi hình này.

- Nghe điện thoại bí mật là biện pháp nghe các cuộc điện thoại của đối tượng bị tình nghi và có thể ghi lại cuộc điện thoại đó nếu cần thiết để bổ sung chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của đối tượng nghi vấn. Và tất nhiên, khi điều tra viên thực hiện hoạt động này, đối tượng bị điều tra cũng không biết việc cuộc điện thoại của mình đã bị nghe và ghi lại.

- Tương tự, Thu thập bí mật dữ liệu điện tử là thu thập một cách bí mật các thông tin dưới dạng điện tử như: Ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh được tạo ra, lưu trữ, truyền đi bởi phương tiện điện tử làm căn chứng chứ, chứng minh hoặc buộc tội,...

3. Các trường hợp được áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt

Như đã nêu ở trên, tính đặc biệt của các biện pháp điều tra tố tụng này ở chỗ chúng được tiến hành một cách bí mật. Nên để tránh việc sử dụng tràn làn, xâm phạm bất hợp pháp bí mật cá nhân, Bộ luật Tố tụng Hình sự đã đặt ra giới hạn về việc sử dụng các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt này như sau:

Điều 224. Trường hợp áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt

Có thể áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt đối với các trường hợp:

1. Tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội phạm về ma túy, tội phạm về tham nhũng, tội khủng bố, tội rửa tiền;

2. Tội phạm khác có tổ chức thuộc loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Từ quy định trên, ta có thể thấy rằng, các trường hợp được sử dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt thường là các tội phạm có tính nguy hiểm cho đất nước (như các tội xâm phạm an ninh quốc gia, khủng bố,..), cho xã hội (các tội phạm về ma tuý, tham nhũng,...), có tổ chức chặt chẽ, các phương thức và thủ đoạn phạm tội cũng như thủ đoạn che dấu tội phạm, "qua mặt các cơ quan chức năng" một cách hết sức tinh vi, xảo quyệt.

Không những vậy, do có tổ chức chặt chẽ nên các đối tượng phạm tội rất ngoan cố, thường chống đối, thiếu hợp tác thậm chí còn sử dụng vũ lực đối với cơ quan điều tra.

Ngoài ra, trong nhiều vụ án, đối tượng phạm tội còn sử dụng nhiều công nghệ, kỹ thuật tiên tiến nên việc sử dụng các biện pháp điều tra tố tụng thông thường không mang lại hiệu quả hoặc không có tác dụng. Chính vì vậy, các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt mới được đưa vào sử dụng nhằm giúp bổ khuyết cho các biện pháp điều tra thông thường, giúp cơ quan điều tra thu thập được các tài liệu, chứng cứ cần thiết trong việc chứng minh tội phạm và giảm các thiệt hại không đáng có về người và về tài sản.

4. Thủ tục áp dụng các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt

Thủ tục áp dụng các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt được quy định tại Điều 225 BLTTHS, Điều 25 Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP như sau:

Thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệtThủ trưởng Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Thủ trưởng Cơ quan điều tra quân sự cấp quân khu trở lên.

Thẩm quyền phê chuẩn quyết định áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt: Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp với Cơ quan điều tra có thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt.

Thủ tục áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt:

Bước 1: Thủ trưởng Cơ quan điều tra ra quyết định áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt.

Cách thức ra quyết định: Tự mình ra quyết định hoặc ra quyết định theo yêu cầu của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu.

Bước 2:  Gửi hồ sơ đề nghị Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn quyết định áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt.

Thời gian gửi hồ sơ tới VKS cùng cấp: Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt.

Thành phần hồ sơ gồm có:

a) Văn bản đề nghị xét phê chuẩn nêu rõ lý do, căn cứ áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt và các thông tin, tài liệu cần thiết thu thập khi áp dụng biện pháp này;

b) Quyết định áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt của Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Thủ trưởng Cơ quan điều tra quân sự cấp quân khu trở lên theo quy định tại khoản 2 Điều 225 Bộ luật Tố tụng hình sự;

c) Các tài liệu khác là căn cứ để Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Thủ trưởng Cơ quan điều tra quân sự cấp quân khu trở lên đề nghị xét phê chuẩn.

(khoản 3 Điều 25 Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP)

Bước 3: Viện kiểm sát ra quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn hoặc có văn bản yêu cầu Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Thủ trưởng Cơ quan điều tra quân sự cấp quân khu trở lên bổ sung chứng cứ, tài liệu để xét phê chuẩn quyết định áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt.

Thời hạn để VKS ra một trong các quyết định nêu trên: Trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị của Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Thủ trưởng Cơ quan điều tra quân sự cấp quân khu trở lên

Lưu ý: Trường hợp vụ án do Cơ quan điều tra cấp huyện, Cơ quan điều tra quân sự khu vực thụ lý, điều tra mà thấy cần thiết và có căn cứ áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt (BPĐTTTĐB).

Thẩm quyền ra quyết định áp dụng BPĐTTTĐB: Vẫn là  Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Thủ trưởng Cơ quan điều tra quân sự cấp quân khu trở lên.

Thủ tục áp dụng:

Bước 1: Cơ quan điều tra cấp huyện, Cơ quan điều tra quân sự khu vực trao đồi với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự khu vực về căn cứ và biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt có thể áp dụng.

Bước 2 (thực hiện đồng thời với bước 1):  Có văn bản kèm theo hồ sơ đề nghị Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Thủ trưởng Cơ quan điều tra quân sự cấp quân khu ra quyết định áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt.

Bước 3:  Gửi hồ sơ đề nghị Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn quyết định áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt.

Thời gian gửi hồ sơ tới VKS cùng cấp: Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt.

Thành phần hồ sơ (nêu trên).

Bước 4: Viện kiểm sát ra quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn hoặc có văn bản yêu cầu Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Thủ trưởng Cơ quan điều tra quân sự cấp quân khu trở lên bổ sung chứng cứ, tài liệu để xét phê chuẩn quyết định áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt.

Thời hạn để VKS ra quyết định: Trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị của Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Thủ trưởng Cơ quan điều tra quân sự cấp quân khu trở lên

5. Thời hạn áp dụng biện pháo điều tra tố tụng đặc biệt

Thời hạn áp dụng các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt được quy định tại Điều 226 BLTTHS năm 2015 như sau:

1. Thời hạn áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt không quá 02 tháng kể từ ngày Viện trưởng Viện kiểm sát phê chuẩn. Trường hợp phức tạp có thể gia hạn nhưng không quá thời hạn điều tra theo quy định của Bộ luật này.

2. Chậm nhất là 10 ngày trước khi hết thời hạn áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt, nếu xét thấy cần gia hạn thì Thủ trưởng Cơ quan điều tra đã ra quyết định áp dụng phải có văn bản đề nghị Viện trưởng Viện kiểm sát đã phê chuẩn xem xét, quyết định việc gia hạn.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Mọi thông tin trên có giá trị tham khảo. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuê