1. Tạm giữ

1.1 Khái niệm

Tạm giữ là biện pháp ngăn chặn do cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền quyết định tước sự tự do thân thể trong thời hạn nhất định đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo quyết định truy nã nhằm đảm bảo cho Cơ quan điều tra có thời gian tiến hành các hoạt động điều tra ban đều để có cơ sở quyết định khởi tố bị can, tạm giam hoặc trả tự do cho người bị bắt.

Ở đây có thể hiểu tạm giữ là biện pháp ngăn chặn tiếp theo của các biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt người trong trường hợp phảm tội quả tang nhằm mục đích ngăn chặn hành vi phạm tội, hành vi cản trở việc điều tra, xác minh tội phạm và tạo điều kiện thuận lợi để Cơ quan điều tra chứng cứ bước đầu làm rõ những tình tiết liên quan đén tội phạm, nhân thân của người bị tạm giữ.

1.2 Đối tượng áp dụng

Đối tượng áp dụng biện pháp tạm giữ bao gồm:

- Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp;

- Người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang;

- Người phạm tội tự thú;

- Người phạm tội đầu thú;

- Người bị bắt theo quyết định truy nã.

1.3 Thủ tục tạm giữ

Việc tạm giữ phải có quyết định bằng văn bản của người có thẩm quyền. Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi ra quyết định tạm giữ người ra quyết định tạm giữ phải gửi quyết định kèm theo các tài liệu làm căn cứ tạm giữ cho Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền. Nếu như xét thấy việc tạm giữ không có căn cứ hoặc không cần thiết thì Viện kiểm sát ra quyết định hủy bỏ quyết định tạm giữ.

Khi có quyết định hủy bỏ quyết định tạm giữ của Viện kiểm sát thì người ra quyết định tạm giũ phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ.

1.4 Thời hạn tạm giữ

Điều 118 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định về thời hạn tạm giữ, cụ thể như sau:

Điều 118. Thời hạn tạm giữ

1. Thời hạn tạm giữ không quá 03 ngày kể từ khi Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra nhận người bị giữ, người bị bắt hoặc áp giải người bị giữ, người bị bắt về trụ sở của mình hoặc kể từ khi Cơ quan điều tra ra quyết định tạm giữ người phạm tội tự thú, đầu thú.

2. Trường hợp cần thiết, người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ nhưng không quá 03 ngày. Trường hợp đặc biệt, người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ lần thứ hai nhưng không quá 03 ngày.

Mọi trường hợp gia hạn tạm giữ đều phải được Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền phê chuẩn. Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi nhận hồ sơ đề nghị gia hạn tạm giữ, Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn.

3. Trong khi tạm giữ, nếu không đủ căn cứ khởi tố bị can thì Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ; trường hợp đã gia hạn tạm giữ thì Viện kiểm sát phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ.

4. Thời gian tạm giữ được trừ vào thời hạn tạm giam. Một ngày tạm giữ được tính bằng một ngày tạm giam”.

Như vậy căn cứ theo quy định nêu trên thời hạn tạm giữ kể cả các lần gia hạn tối đa cũng không được quá 9 ngày. Mọi trường hợp gia hạn tạm giữ đều phải được Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát cấp có thẩm quyền phê duyệt. Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi nhận được đề nghị gia hạn và tài liệu làm căn cứ đề nghị gia hạn Viện kiểm sát phải ra các quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn. Tuy nhiên trong quá trình tạm giữ nếu cơ quan điều tra đã có đầy đủ chứng cứ, tài liệu cũng như là hành vi và nhân thân của người bị tạm giữ thì có thể ra các quyết định cần thiết mà không phải đợi hết thời hạn tạm giữ mới có thể ra các quyết định.

Thời hạn tạm giữ sẽ được trừ vào thời hạn tạm giam trogn trường hợp người bị tạm giữ có quyết định áp dụng biện pháp tạm giam và thời hạn tạm giữ cũng được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù nếu người bị tạm giũ bị Tòa án quyết định áp dụng hình phạt tù hoặc trừ vào hình phạt cải tạo không giam giữ nếu người tạm giữ bị Tòa áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ.

Khi hết thời hạn tạm giữ, nếu không đủ căn cứ đểkhởi tố bị can thì cơ quan ra quyết định tạm giữ phảo trả tự do ngay cho người bị tạm giữ. Nếu đủ căn cứ thì Cơ quan điều tra quyết định khởi tố bị can, quyết định các biện pháp ngăn chặn phù hợp như: tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh,....

2. Tạm giam

2.1 Khái niệm

Tạm giam là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự do cơ quan tiến hành tố tụng á dụng đối với bị can, bị cáo phạm tội trong trường hợp phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội ít nghiêm trọng trong trường hợp cần thiết khi có những căn cứ để cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội được quy định cụ thể trong Bộ luật tố tụng hình sự.

Tạm gia được hiểu là một biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc nhất, do việc tước bỏ quyền tự do thân thể trong một thời hạn tương đối dài so với biện pháp tạm giữ và các biện pháp ngăn chặn khác không tước quyền tự do thân thể. Tính nghiêm khắc của biện pháp này còn được thể hiện ở việc người bị tạm giam còn bị tước một số quyền công dân như quyền bầu cử, ứng cử,...

2.2 Căn cứ, thẩm quyền và thủ tục áp dụng biện pháp tạm giam

Căn cứ, thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm giam được quy định tại Điều 119 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, cụ thể nhưu sau:

Điều 119. Tạm giam

1. Tạm giam có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội đặc biệt nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng.

2. Tạm giam có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội nghiêm trọng, tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên 02 năm khi có căn cứ xác định người đó thuộc một trong các trường hợp:

a) Đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng vi phạm;

b) Không có nơi cư trú rõ ràng hoặc không xác định được lý lịch của bị can;

c) Bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã hoặc có dấu hiệu bỏ trốn;

d) Tiếp tục phạm tội hoặc có dấu hiệu tiếp tục phạm tội;

đ) Có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này.

3. Tạm giam có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù đến 02 năm nếu họ tiếp tục phạm tội hoặc bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã.

4. Đối với bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, là người già yếu, người bị bệnh nặng mà có nơi cư trú và lý lịch rõ ràng thì không tạm giam mà áp dụng biện pháp ngăn chặn khác, trừ các trường hợp:

a) Bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã;

b) Tiếp tục phạm tội;

c) Có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm hoặc người thân thích của những người này;

d) Bị can, bị cáo về tội xâm phạm an ninh quốc gia và có đủ căn cứ xác định nếu không tạm giam đối với họ thì sẽ gây nguy hại đến an ninh quốc gia.

5. Những người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 113 của Bộ luật này có quyền ra lệnh, quyết định tạm giam. Lệnh tạm giam của những người được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 113 của Bộ luật này phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được lệnh tạm giam, đề nghị xét phê chuẩn và hồ sơ liên quan đến việc tạm giam, Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn. Viện kiểm sát phải hoàn trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra ngay sau khi kết thúc việc xét phê chuẩn.

6. Cơ quan điều tra phải kiểm tra căn cước của người bị tạm giam và thông báo ngay cho gia đình người bị tạm giam, chính quyền xã, phường, thị trấn nơi người bị tạm giam cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người bị tạm giam làm việc, học tập biết”.

2.3 Thời hạn tạm giam

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định về thời hạn tạm giam để điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án, cụ thể như sau:

* Thời hạn tạm giam để điều tra

Thời hạn tạm giam để điều tra được quy định tại Điều 173 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, và được xác định cụ thể như sau:

- Thời hạn tạm giam bị can để điều tra không quá 02 tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá 03 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá 04 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

- Trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, xét cần phải có thời gian dài hơn cho việc điều tra và không có căn cứ để thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp tạm giam thì chậm nhất là 10 ngày trước khi hết thời hạn tạm giam, Cơ quan điều tra phải có văn bản đề nghị Viện kiểm sát gia hạn tạm giam. Việc gia hạn tạm giam được quy định như sau:

+ Đối với tội phạm ít nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam một lần không quá 01 tháng;

+ Đối với tội phạm nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam một lần không quá 02 tháng;

+ Đối với tội phạm rất nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam một lần không quá 03 tháng;

+ Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam hai lần, mỗi lần không quá 04 tháng.

- Trường hợp cần thiết đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền gia hạn thêm một lần không quá 04 tháng. Trường hợp thời hạn gia hạn tạm giam quy định tại khoản này đã hết mà chưa thể kết thúc việc điều tra và không có căn cứ để thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp tạm giam thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền gia hạn thêm một lần nhưng không quá 01 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá 02 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng, không quá 04 tháng đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Trường hợp đặc biệt đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng xâm phạm an ninh quốc gia mà không có căn cứ để hủy bỏ biện pháp tạm giam thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quyết định việc tạm giam cho đến khi kết thúc việc điều tra.

- Trường hợp cần thiết đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng không phải là tội xâm phạm an ninh quốc gia và không có căn cứ để thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp tạm giam thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền gia hạn thêm một lần nhưng không quá 04 tháng; trường hợp đặc biệt không có căn cứ để hủy bỏ biện pháp tạm giam thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quyết định việc tạm giam cho đến khi kết thúc việc điều tra.

* Thời hạn tạm giam để truy tố

Theo Khoản 1 Điều 240 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định về thời hạn tạm giam để truy tố, cụ thể được xác định như sau:

Điều 240. Thời hạn quyết định việc truy tố

1. Trong thời hạn 20 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, 30 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng kể từ ngày nhận hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra, Viện kiểm sát phải ra một trong các quyết định:

a) Truy tố bị can trước Tòa án;

b) Trả hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung;

c) Đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án; đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án đối với bị can.

Trường hợp cần thiết, Viện trưởng Viện kiểm sát có thể gia hạn thời hạn quyết định việc truy tố nhưng không quá 10 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, không quá 15 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng, không quá 30 ngày đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”.

* Thời hạn tạm giam để xét xử sơ thẩm

Căn cứ theo quy định tại Điều 277 và Điều 278 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định về thời hạn tạm giam để chuẩn bị xét xử sơ thẩm được quy định cụ thể như sau:

- Thời hạn tạm giam để chuẩn xị xét xử là 30 ngày đối với tội ít nghiêm trọng; 45 ngày đối với tội nghiêm trọng; 2 tháng đối với tội rất nghiêm trọng và 3 tháng đối với tội đặc biệt nghiêm trọng kể từ ngày nhận hồ sơ vụ án, dù lệnh tạm giam đối với vị can của các Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát còn hay hết thời hạn thì Tòa án vẫn phải ra lệnh tạm giam mới.

- Đối với những vụ án phức tạp, Chánh án Tòa án có quyết định gia hạn tạm giam nhưng không quá 15 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và nghiêm trọng; không quá 30 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng. Việc gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử phải báo ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp.

Luật Minh Khuê