Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Dân sự của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự về bồi thường thiệt hại, gọi:  1900.6162

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý: 

Bộ luật dân sự năm 2015

2. Luật sư tư vấn:

- Căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng gồm:

>> Xem thêm:  Tư vấn thủ tục khởi kiện vụ án dân sự - hôn nhân - gia đình

+ Thứ nhất, có hành vi trái pháp luật. Hành vi trái pháp luật là những xử sự cụ thể của con người được thực hiện thông qua hành động hoặc không hành động trái với các quy định của pháp luật xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền và lợi ích của chủ thể khác. Chỉ những quyền và lợi ích đó mới là hành vi trái pháp luật. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là mọi hành vi xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp đều là hành vi trái pháp luật, bởi thực tế cũng như dưới góc độ pháp lý, có những hành vi xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác nhưng được pháp luật cho phép thực hiện hoặc bắt buộc phải thực hiện.

 + Thứ hai, phải có thiệt hại xảy ra. Đây là điều kiện tiên quyết của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và cũng là một điểm khác biệt so với trách nhiệm theo hợp đồng. Trong hợp đồng các bên có thể thỏa thuận việc phạt vi phạm khi một bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ mà không cần 8 chứng minh có thiệt hại xảy ra hay không. Trái lại, trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, bên bị thiệt hại bắt buộc phải chứng minh được thiệt hại xảy ra. Nếu không có thiệt hại thì mặc dù có hành vi vi phạm pháp luật cũng không phát sinh trách nhiệm bồi thường, mặc dù có thể phát sinh những trách nhiệm pháp lý khác như: trách nhiệm hình sự, trách nhiệm hành chính,....Thiệt hại là sự giảm sút về lợi ích vật chất của người bị thiệt hại mà họ đã có hoặc sự mất mát lợi ích vật chất mà chắc chắn họ sẽ có. Thiệt hại bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại do tổn thất về tinh thần.

+ Thứ ba, người có hành vi vi phạm pháp luật phải có lỗi, bao gồm lỗi vô ý và lỗi cố ý. Tuy là một trong những điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nhưng vì hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật nên người thực hiện hành vi đó luôn luôn bị suy đoán là có lỗi. Người bị thiệt hại không cần phải chứng minh người gây ra thiệt hại có lỗi mà ngược lại người gây ra thiệt hại phải chứng minh mình không có lỗi để không phải bồi thường hoặc chứng minh mình mặc dù có lỗi những lỗi đó lại phát sinh từ chính lỗi của người bị thiệt hại, nhằm giảm trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Mặc dù yếu tố lỗi là một trong bốn yếu tố quan trọng để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của một chủ thể, tuy nhiên, trong một số trường hợp mà pháp luật quy định cụ thể, người gây thiệt hại phải bồi thường cả trong trường hợp không có lỗi.

+ Thứ tư, có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi trái pháp luật, tức là hành vi trái pháp luật của người gây thiệt hại phải là nguyên nhân gây ra thiệt hại thì người gây thiệt hại mới phải bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại. Tuy nhiên, trong một số trường hợp cụ thể rất khó xác định mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi trái pháp luật của người gây thiệt hại, đặc biệt là đối với những trường hợp gây ô nhiễm môi trường.

- Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân

Xuất phát từ năng lực chủ thể của cá nhân khi tham gia vào quan hệ dân sự, Bộ luật Dân sự 2015 quy định năng lực hành vi, tình trạng tài sản và khả năng bồi thường của cá nhân cụ thể như sau:

Người từ đủ mười tám tuổi trở lên gây thiệt hại thì phải tự bồi thường.

Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại được xác định trên cơ sở năng lực hành vi dân sự và khả năng kinh tế. Vì vậy về nguyên tắc, pháp nhân luôn luôn có khả năng và có trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Pháp luật chỉ quy định năng lực chịu trách nhiệm bồi thường của cá nhân.

Người từ đủ 18 tuổi trở lên gây thiệt hại thì phải tự bồi thường, bất kể họ có khả năng kinh tế hay không. Tất nhiên, họ phải là người không bị mất năng lực hành vi dân sự. Trong trường hợp họ không có tài sản mà cha, mẹ lại có tài sản thì cha, mẹ cũng không có trách nhiệm bồi thường thay cho con trừ khi họ tự nguyện. trong trường hợp này, người gây thiệt hại là bị đơn dân sự, trừ khi họ mất năng lực hành vi dân sự.

>> Xem thêm:  Hỏi đáp pháp luật dân sự trực tuyến qua tổng đài 1900.6162

Người chưa thành niên dưới mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu. Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình.

Đối với người dưới 15 tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường kể cả trong trường hợp người con chưa thành niên đó có tài sản riêng. Chỉ có thể lấy tài sản của con để bồi thường phần còn thiếu khi cha, mẹ không đủ đẻ 10 bồi thường, trừ trường hợp người dưới 15 tuổi trong thời gian học tại trường mà gây thiệt hại thì trường học phải bồi thường thiệt hại xảy ra theo quy định trong BLDS 2015. Trong trường hợp người dưới 15 tuổi gây thiệt hại thì cha, mẹ của người gây thiệt hại là bị đơn dân sự.

Đối với người chưa thành niên từ đủ 15 tuổi trở lên mà gây thiệt hại thì ngược lại, họ phải bồi thường bằng tài sản của mình. Cha, mẹ chỉ phải bồi thường thiệt hại phần còn thiếu. Trong trường hợp này thì người gây thiệt hại là bị đơn dân sự còn cha mẹ của người gây thiệt hại là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại mà có người giám hộ thì người giám hộ đó được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường.

Trong trường hợp người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại mà có người giám hộ, thì người giám hộ được lấy tài sản của người được giám hộ để bồi thường kể cả khi người chưa thành niên đó chưa đủ 15 tuổi bởi nghĩa vụ của người giám hộ không giống như nghĩa vụ của cha, mẹ. Nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình, trừ khi họ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ. Trong trường hợp người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại thì cá nhân, tổ chức giám hộ là bị đơn dân sự. 

Trên đây là tư vấn của chúng tôi.  Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Dân sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Tư vấn về bồi thường thiệt hại trong dân sự ?