Thưa luật sư, xin luật sư cho biết pháp luật hiện hành quy định như thế nào về đối tượng người lao động là người giúp việc trong gia đình? Người lao động giúp việc trong gia đình được hưởng những quyền lợi và có nghĩa vụ như thế nào trong quan hệ lao động này?

Rất mong nhận được giải đáp từ luật sư. Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: Hồng Hạnh - Thái Nguyên

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Lao động của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Lao động, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

- Bộ luật lao động năm 2019

- Nghị định sô 145/2020/NĐ-CP

>> Xem thêm:  Mẫu báo cáo tình hình sử dụng lao động người nước ngoài cho doanh nghiệp mới nhất

- Nghị định số 28/2020/NĐ-CP

2. Lao động là người giúp việc gia đình là gì?

Lao động là người giúp việc gia đình là người lao động làm thường xuyên các công việc trong gia đình của một hoặc nhiều hộ gia đình.

3. Quy định về lao động là người giúp việc gia đình

Lao động là người giúp việc gia đình là lực lượng lao động rất được thế giới quan tâm. Theo thống kê của ILO, hiện có khoảng 53 triệu lao động làm việc trong lĩnh vực giúp việc gia đình trên toàn thế giới, 83 % số lao động giúp việc gia đình là nữ giới. Năm 2011, ILO đã thông qua Công ước số 189 về việc làm bền vững đối với lao động phát triển gia đình và Khuyến nghị số 201 về lao động giúp việc gia đình.

Đây là những tiêu chuẩn quốc tế đầu tiên được áp dụng tuyên bố với lao động giúp việc gia đình, kể cả lao động giúp việc gia đình làm việc ở nước ngoài nhằm tạo ra hàng rào pháp lý bảo vệ đối với người lao động giúp việc gia đình, đảm bảo cho lao động giúp việc gia đình được hưởng sự bình đẳng về việc làm và điều kiện sinh hoạt.

Ở Việt Nam, lao động giúp việc gia đình đã tồn tại từ rất sớm trong đời sống xã hội. Tuy nhiên phải đến năm 1994 mới được thừa nhận và quy định trong bộ luật lao động. Qua quá trình sửa đổi, bổ sung bộ luật, lao động là người giúp việc vẫn luôn được coi là lao động đặc thù và được quy định trong bộ luật lao động.

Tính đặc thù của lao động là người giúp việc gia đình được thể hiện rất rõ trong khái niệm về lao động là người giúp việc gia đình quy định tại Điều 161 của bộ luật:

Thứ nhất, công việc của người giúp việc gia đình là các công việc trong gia đình, bao gồm công việc nội trợ, quan sát, chăm sóc trẻ em, chăm sóc người bệnh, chăm sóc người già, lái xe, làm vườn và các công việc khác cho hộ gia đình.

Đây là nét đặc trưng khác với công việc của người lao động khác, không phải những công việc được xác định cụ thể mà là một chuỗi các công việc giản đơn khác nhau, được lặp đi lặp lại mỗi ngày (nấu ăn, trông trẻ phải giặt, quét dọn nhà cửa…) và không thể được mô tả một cách rõ ràng, thời gian làm việc cũng không cố định mà phụ thuộc vào đối tượng được phục vụ. Trong khi đó đối tượng được phục vụ, được thụ hưởng là các thành viên trong gia đình, ở mọi lứa tuổi khác nhau, có nhu cầu khác nhau, vì thế đòi hỏi lao động giúp việc gia đình không chỉ hiểu biết về công việc mà cần phải hiểu biết nhu cầu và tính cách của từng thành viên trong gia đình.

>> Xem thêm:  Phân tích yếu tố chủ thể (các bên) khi giao kết hợp đồng lao động ?

Để bảo vệ người lao động giúp việc gia đình tránh bị bóc lột và lạm dụng sức lao động, pháp luật lao động quy định công việc của người giúp việc gia đình không được liên quan đến hoạt động thương mại. Điều này có nghĩa là các công việc của người giúp việc gia đình không được liên quan đến sản xuất, kinh doanh tạo ra lợi nhuận hoặc cạnh tranh trên thị trường mà chỉ đơn thuần thực hiện các công việc liên quan đến đời sống sinh hoạt của gia đình, cá nhân có nhu cầu giúp việc.

Thứ hai, lao động giúp việc gia đình làm việc trong môi trường khép kín, đến đơn lẻ. Phạm vi làm việc của người sử dụng lao động giúp việc gia đình là trong gia đình của một hoặc nhiều hộ gia đình. Thời gian để thực hiện công việc không cố định, thường kéo dài và diễn ra gần như toàn thời gian ở trong nhà, người giúp việc ít có cơ hội giao lưu, tiếp xúc với bên ngoài. Vì vậy, người giúp việc dễ bị bóc lột, lạm dụng sức lao động, ngược đãi, quấy rối tình dục từ các thành viên trong gia đình. Ngoài ra, người giúp việc gia đình còn có nguy cơ bị người sử dụng lao động vi phạm các thỏa thuận về công việc, tiền lương, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, chưa kể họ có thể bị kiểm soát hành vi, lời nói, tự do đi lại và giao tiếp làm ảnh hưởng đến đời sống tinh thần.

Xuất phát từ tính chất đặc thù của đối tượng lao động này so với người lao động khác mà Bộ luật giao Chính phủ quy định về lao động là người giúp việc gia đình, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho người lao động, tạo sự linh hoạt và tính khả thi trong việc thực hiện các quy định của luật.

4. Hợp đồng lao động đối với lao động là người giúp việc gia đình

Theo quy định tại khoản 1 Điều 13 Bộ luật lao động năm 2019 thì hợp đồng lao động là sự thoả thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, tiền lương, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động. Hợp đồng lao động có các nội dung chủ yếu được quy định tại khoản 1 Điều 21 của bộ luật.

Tuy nhiên, xuất phát từ đặc thù của lao động giúp việc gia đình và để tạo sự linh hoạt trong thực hiện quy định của luật, Điều 162 của Bộ luật lao động không quy định hợp đồng lao động đối với người giúp việc gia đình phải có đầy đủ các nội dung như hợp đồng lao động với người lao động khác mà chỉ bắt buộc có các nội dung thỏa thuận của hai bên về thời hạn hợp đồng lao động, hình thức trả lương, kỳ hạn trả lương, thời giờ làm việc hằng ngày, chỗ ở; đồng thời cho phép mỗi bên có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động bất cứ khi nào nhưng phải báo trước ít nhất 15 ngày.

Theo đó, khi Chính phủ quy định về lao động là người giúp việc gia đình (khoản 2 Điều 161 BLLĐ năm 2019) đã quy định mẫu hợp đồng lao động, trong đó chi tiết các nội dung làm căn cứ để hai bên thỏa thuận, tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình giao kết hợp đồng lao động. Về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, ngoài quy định báo trước ít nhất 15 ngày, Nghị định quy định bổ sung các trường hợp được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà không cần phải báo trước để phù hợp với khoản 2 Điều 35 điểm d và e khoản 1 Điều 36 của Bộ luật lao động.

Về hình thức hợp đồng lao động, trước đây BLLĐ năm 1994 quy định hợp đồng lao động đối với người lao động giúp việc gia đình được giao kết bằng miệng. Tuy nhiên, thực tế cho thấy nhiều trường hợp quyền lợi của người giúp việc gia đình không được bảo đảm, người sử dụng lao động vi phạm các thỏa thuận đã cam kết ban đầu với người lao động mà không có bằng chứng, chứng cứ lưu lại để giải quyết tranh chấp phát sinh. Vì vậy, từ Bộ luật lao động cũ năm 2012 và đến nay là Bộ luật lao động năm 2019 đều quy định hợp đồng lao động đối với gia đình phải giao kết với hình thức văn bản, quy định này cũng phù hợp với quan điểm của ILO được quy định tại điều 7 Công ước số 189.

Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy việc giao kết hợp đồng lao động đối với người lao động giúp việc chủ yếu dưới hình thức lời nói, rất ít trường hợp giao kết bằng văn bản và nội dung của hợp đồng lao động cũng rất sơ sài, thường chỉ thỏa thuận về công việc phải làm và tiền lương, thậm chí nhiều trường hợp còn cho rằng việc ký kết hợp đồng lao động là không cần thiết. Cả người lao động giúp việc gia đình và người sử dụng lao động đều chưa nhận thức được vai trò cũng như lợi ích của việc giao kết hợp đồng lao động. Họ ngại có sự rằng buộc về mặt pháp lý vì không biết trước có sử dụng lao động giúp việc gia đình được lâu dài hay không. Điều này đặt ra vấn đề trong công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật của cơ quan quản lý nhà nước về lao động, tổ chức, đoàn thể các cơ sở đến người lao động là giúp việc gia đình và người sử dụng lao động.

5. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi sử dụng lao động là người giúp việc gia đình

>> Xem thêm:  Phân tích đặc trưng của quan hệ lao động ở Việt Nam ? Giải pháp phát triển quan hệ lao động

Người lao động giúp việc gia đình nhìn chung là đối tượng yếu thế, phát hiện, vì làm việc trong môi trường khép kín, đơn lẻ và chủ yếu là lao động nữ, có trình độ học vấn thấp, họ thường không có tiếng nói đủ tầm ảnh hưởng về khía cạnh pháp lý. Vì vậy, họ dễ có nguy cơ bị đối xử bất công, bị lạm dụng sức lao động, quấy rối tình dục và dễ chịu thiệt thòi về quyền lợi trong mối quan hệ lao động. Do đó, để đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho người lao động là người giúp việc gia đình, pháp luật quy định người sử dụng lao động phải có các nghĩa vụ:

+ Thực hiện đầy đủ thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

+ Trả cho người lao động giúp việc gia đình khoản tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật để người lao động chủ động tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế;

+ Tôn trọng danh dự, nhân phẩm của người giúp việc gia đình;

+ Bố trí chỗ ăn, chỗ vệ sinh cho người giúp việc gia đình nếu có thỏa thuận;

+ Tạo cơ hội cho người giúp việc gia đình được tham gia học văn hóa, giáo dục nghề nghiệp;

+ Trả tiền tàu xe đi đường khi người giúp việc gia đình thôi việc về nơi cư trú, trù trường hợp người giúp việc gia đình chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn.

6. Nghĩa vụ của lao động là người giúp việc gia đình

Trong mối quan hệ lao động với người sử dụng lao động, người lao động giúp việc gia đình cũng có nghĩa vụ thực hiện đầy đủ các thỏa thuận đã giao kết trong hợp đồng lao động. Ngoài ra, người giúp việc gia đình có các nghĩa vụ khác mà pháp luật dữ liệu để bảo đảm quyền lợi của gia đình và cả quyền lợi của bản thân người giúp việc, bao gồm:

+ Bồi thường trách nhiệm vật chất theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật trong trường hợp làm hỏng, mất tài sản của người sử dụng lao động;

>> Xem thêm:  Bắt giữ người lao động trái phép có vi phạm pháp luật hay không ?

+ Thông báo kịp thời với người sử dụng lao động về khả năng, nguy cơ gây tai nạn, đe dọa an toàn, sức khỏe, tính mạng, tài sản của gia đình người sử dụng lao động và bản thân;

+ Tố cáo với cơ quan có thẩm quyền nếu người sử dụng lao động ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động hoặc có hành vi khác vi phạm pháp luật.

7. Các hành vi bị nghiêm cấm đối với người sử dụng lao động

Theo các tài liệu của ILO ghi nhận lao động giúp việc gia đình, đặc biệt là lao động giúp việc gia đình làm việc tại nước ngoài là đối tượng lao động dễ bị bóc lột và lạm dụng. Nguyên nhân dẫn tới tình trạng này là do tính chất nhiều lao động nữ của lĩnh vực lao động giúp việc gia đình, cách nhìn nhận phổ biến đối với công việc này là một loại hình lao động tay nghề thấp và do môi trường công việc khép kín trong gia đình.

Môi trường làm việc này có thể làm tăng các nguy cơ xảy ra như bị cô lập, bị phụ thuộc và lạm dụng sức lao động. Chính vì vậy, để bảo vệ người lao động là giúp việc gia đình, pháp luật quy định các hành vi bị nghiêm cấm đối với người sử dụng lao động. Trong đó có nhóm hành vi xâm hại tới thể xác, tinh thần của người lao động (ngược đãi, quấyrối tình dục, cưỡng bức lao động, dùng vũ lực); hành vi lạm dụng sức lao động của người lao động giúp việc gia đình (giao việc cho người giúp việc không theo hợp đồng lao động) và hành vi sử dụng lợi thế của người chủ để khống chế người lao động gip việc gia đình (giữ giấy tờ tùy thân của người lao động).

Các quy định này cũng thống nhất với các quy định về hành vi bị nghiêm cấm trong lĩnh vực lao động (Điều 8 của bộ luật lao động), góp phần cảnh báo và là cơ sở để xử lý vi phạm đối với người sử dụng lao động có hành vi được quy định tại điều này.

Xem thêm xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực này tại Nghị định số 28/2020/NĐ-CP.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Tình hình kinh tế xã hội tác động đến quan hệ lao động như thế nào ?

Luật Minh Khuê - Sưu tầm & biên tập

>> Xem thêm:  Cấp giấy phép lao động cho người nước ngoài làm việc tại Việt Nam

Câu hỏi thường gặp về người lao động giúp việc gia đình

Câu hỏi: Các công việc mà người lao động giúp việc gia đình thường làm là gì?

Trả lời:

Các công việc trong gia đình bao gồm công việc nội trợ, quản gia, chăm sóc trẻ em, chăm sóc người bệnh, chăm sóc người già, lái xe, làm vườn và các công việc khác cho hộ gia đình nhưng không liên quan đến hoạt động thương mại.

Câu hỏi: Có bắt buộc phải lý hợp đồng bằng văn bản với người giúp việc gia định không?

Trả lời:

Khoản 1 Điều 162 BLLĐ năm 2019 quy định: "Người sử dụng lao động phải giao kết hợp đồng lao động bằng văn bản với lao động là người giúp việc gia đình."

Câu hỏi: Không ký hợp đồng bằng văn bản với người lao động giúp việc gia đình có bị phạt không?

Trả lời:

Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 29 Nghị định số 28/2020/NĐ-CP thì hành vi không ký kết hợp đồng bằng văn bản với người lao động giúp việc sẽ bị phạt cảnh cáo và buộc phải ký hợp đồng bằng văn bản.