1. Bộ luật dân sự Bắc Kỳ là gì ?

Bộ luật dân sự Bắc Kỳ là bộ luật dân sự áp dụng cho xứ Bắc Kỳ Việt Nam dưới thời Pháp thuộc.

Tìm hiểu về bộ luật dân sự Bắc Kỳ:

Bộ luật có tên gọi chính thức là “Bộ dân luật thi hành tại các toà Nam án Bắc Kỳ”, được ban hành ngày 30. 3.1931 và có hiệu lực thi hành tại Bắc Kỳ từ ngày 01.7.1931.

Bộ luật dân sự Bắc Kỳ được ban hành trong bối cảnh cả hai xứ Bắc Kỳ và Trung Kỳ của Việt Nam đều được đặt trong chế độ bảo hộ của Pháp, trong khi đó tại xứ Nam Kỳ, Bộ dân luật giản yếu đã được ban hành từ năm 1884 để áp dụng riêng cho lãnh thổ Nam Kỳ. Do không thể áp dụng Bộ dân luật giản yếu (tức Bộ dân luật Nam Kỳ) vào lãnh thổ Bắc Kỳ nên người ta đã nghĩ đến việc cần phải ban hành riêng một bộ dân luật để áp dụng tại lãnh thổ Bắc Kỳ. Ý định ban hành bộ dân luật Bắc Kỳ đã được khởi sự từ năm 1917 và hoàn tất vào đầu năm 1931, với sự cộng tác của các luật gia người Việt và người Pháp.

Bộ luật dân sự Bắc Kỳ có 1455 điều, được thiết kế gồm một thiên sơ bộ và bốn quyển với nội dung cơ bản như sau: thiên sơ bộ nói về các nguyên tắc cơ bản của dân luật như nguyên tắc công bố luật, nguyên tắc bất hồi tố, nguyên tắc bình đẳng, tự do cá nhân và tôn trọng quyền tư hữu, nguyên tắc thừa nhận ưu thế của pháp luật so với các thoả thuận hay cam kết của tư nhân với nhau, cũng như ưu thế của pháp luật đối với các thẩm phán trong quá trình xét xử.... quyển 1 quy định về quốc tịch, hộ tịch, hôn nhân gia đình và thừa kế, quyển 2 quy định cặc vấn đề về tài sản như phân loại tài sản (động sản và bất động sản), quyền sở hữu, hình thức sở hữu, quyền của chủ sở hữu, dịch chuyển quyền sở hữu...; quyển 3 nói về nghĩa vụ và khế ước; quyển 4 quy định về cách thức viện dẫn các chứng cứ trong các vụ kiện dân sự.

Về nguyên tắc, Bộ luật dân sự Bắc Kỳ chỉ áp dụng cho những người thuộc quyền xét xử của các toà án ở Bắc Kỳ. Tuy nhiên, trong Bộ luật này cũng dự liệu hai trường hợp biệt lệ về phạm vi áp dụng: thứ nhất, Bộ luật này chấp nhận và cho-phép tiếp tục thi hành những phong tục, tập quán riêng của các dân tộc ít người ở Bắc Bộ như Mường, Mán, Mèo, Thái...; thứ hai, các quy định về thân trạng và năng lực pháp luật của cá nhân trong bộ luật này có thể áp dụng cho những người dân Bắc Kỳ cư trú ngoài lãnh thổ Bắc Kỳ.

Giống như Bộ dân luật giản yếu áp dụng tại Nam Kỳ, Bộ luật dân sự Bắc Kỳ cũng được xây dựng dựa trên nền tảng của Bộ luật dân sự Pháp ban hành năm 1804. Tuy nhiên, so với Bộ dân luật giản yếu được ban hành từ năm 1884 tại Nam Kỳ thì Bộ luật dân sự Bắc Kỳ có nhiều điểm hoàn thiện hơn, bởi lẽ bộ luật này không những quy định khá toàn diện về tất cả các vấn đề của dân luật (bao gồm các quy định về người; quyền sở hữu tài sản; thừa kế, nghĩa vụ và khế ước...), mà ở mức độ nhất định đã có sự kế thừa các phong tục, tập quán truyền thống của các dân tộc Việt Nam lúc bấy giờ.

Tuy nhiên, Bộ luật dân sự Bắc Kỳ cũng có nhiều điểm hạn chế xuất phát từ bối cảnh đất nước đang đặt dưới ách đô hộ của thực dân, phong kiến lúc bấy giờ. Chẳng hạn, Bộ luật không thừa nhận nguyên tắc nam nữ bình đẳng, thay vào đó, Bộ luật bảo hộ chế độ da thê, chế độ gia trưởng và độc đoán trong gia đình, phân biệt đối xử con trong giá thú với con ngoài giá thú...

2. Bộ luật dân sự nam kỳ là gì ?

Bộ luật dân sự nam kỳ là bộ dân luật giản yếu được ban hành ngày 26.3.1884 áp dụng cho xứ Nam Kỳ.

Tìm hiểu về bộ luật dân sự Nam kỳ:

Đây là bộ luật dân sự đầu tiên ở nước ta được xây dựng theo tinh thần của nền pháp chế phương Tây mà vai trò ảnh hưởng trực tiếp là các tư tưởng pháp lí được thể hiện trong Bộ dân luật của Pháp ban hành năm 1804.

Bộ luật này được xây dựng trong bối cảnh Nam Kỳ Việt Nam lúc đó đã trở thành thuộc địa của Pháp và quyền lập pháp trên toàn cõi Nam Kỳ đều thuộc về người Pháp. Để thuận tiện cho việc áp dụng tinh thần Bộ dân luật Pháp tại Việt Nam, người ta đã nghĩ đến việc soạn thảo một bộ dân luật riêng áp dụng tại Nam Kỳ nhưng phải được xây dựng theo bố cục và tinh thần của Bộ dân luật Pháp. Trước khi Bộ luật dân sự Nam Kỳ được chính thức ban hành, ngày 3.10.1883, Chính phủ Pháp đã ban hành hai sắc lệnh nhằm áp dụng tại Nam Kỳ, trong đó Sắc lệnh thứ nhất quy định về vấn đề quốc tịch và trú quán (giống như thiên sơ bộ và thiên I, thiên IIl trong Quyển 1 Bộ dân luật Pháp); còn sắc lệnh thứ hai quy định về vấn đề hộ tịch (giống như thiên II trong Quyển 1 Bộ dân luật Pháp). Các vấn đề còn lại trong Bộ dân luật Pháp (từ Thiên thứ IV đến Thiên thứ XI) được ban hành sau đó không lâu, trong Bộ dân luật giản yếu ngày 26.3.1884 để áp dụng tại xứ Nam Kỳ. Chính vì trong Bộ dân luật này chỉ quy định từ Thiên thứ IV đến Thiên thứ XI nên được gọi là “Bộ dân luật giản yếu”.

Về nội dung, Bộ dân luật giản yếu áp dụng tại Nam Kỳ bao gồm các thiên như sau: Thiên IV nói về sự thất tung (mất tích); Thiên V nói về giá thú; Thiên VI quy định về việc li hôn; Thiên VII quy định về chế độ phụ hệ và con chính thức; Thiên VIII quy định về vấn đề con nuôi; Thiên IX quy định về vấn đề thân quyền; Thiên X quy định về vấn đề vị thành niên, giám hộ, thoát quyền; Thiên XI quy định về vấn đề thành niên.

So với Bộ dân luật Bắc Kỳ và Bộ dân luật Trung Kỳ thì Bộ dân luật giản yếu áp dụng tại xứ Nam Kỳ chỉ quy định những vấn đề về nhân pháp (tức nói về người), chứ không quy định các vấn đề khác vốn được xem là một trong những nội dung cốt yếu của dân luật như vấn đề tài sản; vấn để nghĩa vụ dân sự và khế ước. Thậm chí, ngay cả chế độ tài sản của vợ chồng hay vấn đề thừa kế, vốn rất gần gũi với các quy định về “người” cũng không được quy định trong Bộ luật này.

3. Bộ luật dân sự trung kỳ là gì ?

Bộ luật dân sự trung kỳ là bộ luật dân sự áp dụng cho xứ Trung Kỳ, với tên gọi cũ là Hoàng Việt Trung Kỳ hộ luật, gồm 5 quyển được ban hành bởi nhiều đạo dụ trong những thời gian khác nhau, từ năm 1936 đến năm 1939.

Tìm hiểu về bộ luật dân sự trung kỳ:

Quyển thứ nhất được ban hành bởi Dụ số 51 ngày 13.7.1936 (tức ngày ngày 25.5 năm Bảo Đại thứ 1) và có hiệu lực thi hành tại Trung Kỳ từ ngày 19.11 năm Bảo Đại thứ 1. Quyển thứ hai được ban hành bởi Dụ số 95 ngày 8.1.1938. Quyển thứ ba, thứ tư và thứ năm được ban hành bởi Dụ số 59 ngày 28.9.1939. Bộ luật dân sự Trung Kỳ được soạn thảo và ban hành trong bối cảnh tại Bắc Kỳ đã có Bộ dân luật Bắc Kỳ (1931) và ở Nam Kỳ đã có Bộ dân luật giản yếu (năm 1884). Trong hoàn cảnh như vậy, việc ban hành bộ luật này tại Trung Kỳ là giải pháp giúp cho các thẩm phán áp dụng pháp luật được thuận tiện hơn trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự mà không cần phải viện dẫn các quy định của Bộ dân luật Bắc Kỳ hay Bộ dân luật Nam Kỳ, vốn dĩ chỉ được ban hành để áp dụng cho hai xứ đó.

Trong quá trình soạn thảo Bộ luật dân sự Trung Kỳ, các nhà làm luật đã dựa trên căn bản khuôn mẫu của Bộ dân luật Bắc Kỳ năm 1931. Tuy nhiên, Bộ luật dân sự Trung Kỳ cũng có một vài điểm khác biệt so với Bộ dân luật Bắc Kỳ năm 1931, cụ thể là: 1) Nếu trong Bộ dân luật Bắc Kỳ, vấn đề thừa kế được quy định ở Quyển 1 (thiên 11 và 12) thì trong Bộ dân luật Trung Kỳ, vấn đề thừa kế được tách ra và chuyển sang Quyển 2 của Bộ luật này; 2) Nếu Bộ luật dân sự Bắc Kỳ chỉ có 1455 điều với cấu trúc gồm 4 quyển thì Bộ luật dân sự Trung Kỳ có tới 1709 điều và chia thành 5 quyển. Sự gia tăng về số lượng các điều khoản của Bộ dân luật Trung Kỳ là do vấn đề khế ước trong Bộ luật này đã được quy định rõ hơn, chỉ tiết hơn so với Bộ dân luật Bắc Kỳ năm 1931 cho phù hợp với bối cảnh xã hội Việt Nam trong thời gian đó.

Bộ luật dân sự Trung Kỳ cũng có những điểm hạn chế xuất phát từ bối cảnh đất nước đang đặt dưới ách đô hộ của thực dân, phong kiến lúc bấy giờ. Chẳng hạn, Bộ luật không thừa nhận nguyên tắc nam nữ bình đẳng, thay vào đó, Bộ luật bảo hộ chế độ đa thê, chế độ gia trưởng và độc đoán trong gia đình, phân biệt đối xử con trong giá thú, con ngoài giá thú...

4. Một số Bộ luật dân sự đã được ban hành.

Bộ luật dân sự đầu tiên của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội khóa IX, kì họp thứ 8 thông qua ngày 28.10.1995, có hiệu lực từ ngày 1.7.1996. Bộ luật bao gồm lời nói đầu và 7 phần, 838 điều luật với những nội dung chính sau: Phần thứ nhất - Những quy định chung; Phần thứ hai - Tài sản và quyền sở hữu; Phần thứ ba - Nghĩa vụ dân sự và hợp đồng dân sự; Phần thứ tư - Thừa kế, Phần thứ năm - Những quy định về chuyển quyền sử dụng đất; Phần thứ sáu - Sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ; Phần thứ bảy - Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài.

Sau gần 10 năm thực hiện, Bộ luật dân sự năm 1995 đã bộc lộ nhiều bất cập, đặc biệt cùng với sự phát triển kinh tế, xã hội đã đặt ra yêu cầu, sự đòi hỏi mới để điều chỉnh của pháp luật đối với các quan hệ pháp luật dân sự. Chính vì vậy, Quốc hội khoá XI, tại kì họp thứ bảy đã thông qua Bộ luật dân sự mới vào ngày 14.6.2005. So với Bộ luật dân sự năm 1995, Bộ luật dân sự năm 2005 tiếp tục được chia thành bảy phần với tên gọi như Bộ luật dân sự năm 1995, đã có sự thay đổi cơ cấu các điều luật, chỉ còn 777 điều, bên cạnh những điểm mới nhằm đáp ứng những yêu cầu của thực tiễn đặt ra.

Bộ luật dân sự 2015 là Bộ luật hiện nay đang có hiệu lực, thay thế cho Bộ luật dân sự 2005.

Bộ luật dân sự được xem là nguồn chủ yếu của luật dân sự, là phương tiện pháp lí quan trọng nhằm thúc đẩy giao lưu dân sự phát triển, bảo đảm sự bình đẳng và an toàn pháp lí cho các giao dịch dân sự, bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong giao lưu dân sự.

 

5. Phân biệt luật dân sự vời các ngành luật khác.

Luật dân sự là một ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam - tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ tài sản mang tính chất hàng hoá-tiền tệ và các quan hệ nhân thân trên cơ sở bình đẳng, độc lập của các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ đó.

- Chúng ta dễ dàng phân biệt luật dân sự với luật hành chính. Luật hành chính điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực điều hành và quản lí nhà nước. Các chủ thể tham gia không bình đẳng về địa vị pháp lí và không thể thoả thuận trong việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ hành chính mà được xác lập dựa trên các quy định của pháp luật.

- Luật hình sự có nhiệm vụ bảo vệ các quan hệ xã hội bằng cách quy định những hành vi nào bị coi là hành vi nguy hiểm cho xã hội đồng thời quy định hình phạt tương ứng với mức độ nguy hiểm của hành vi đó. Mặc dù việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế do luật hình sự quy định là sự cưỡng chế của Nhà nước nhưng những biện pháp này trước tiên là ttách nhiệm của cá nhân với xã hội, với Nhà nước nói chung. Chức năng chủ yếu của hình phạt là trừng phạt và giáo dục; còn trong dân sự, trách nhiệm tài sản trước tiên là trách nhiệm của chủ thể này đối với chủ thể khác và mục đích chủ yếu của nó là phục hồi tình trạng tài sản của bên bị thiệt hại.

- Luật lao động được tách ra từ luật dân sự khi sức lao động trở thành hàng hoá trong xã hội tư bản. Đối tượng điều chỉnh của luật lao động là bản thân quá trình lao động mà không phải là kết quả của quá trình đó giữa người lao động và người sử dụng lao động. Khi các quan hệ lao động không có quy phạm pháp luật trực tiếp điều chỉnh thì sẽ áp dụng các quy định của BLDS năm 2015 để điều chỉnh các quan hệ đó.

 

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến luật dân sự, thừa kế, đất đai ... Hãy gọi ngay: 1900.6162, để được luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê (biên tập)