1. Bộ máy tư pháp ở Anh thời kỳ trọng thương

Sự phát triển bộ máy tư pháp ở Anh là một tiến trình phức tạp và lâu dài. Về cơ bản, ba thông luật triều đình phát triển trong thời kỳ giữa giai đoạn Na Uy xâm lược và giai đoạn Trọng thương: Tòa án triều đình, Tòa tố tụng thông thường và Tòa tài chính, vấn đề trước các tòa án này chủ yếu mang tính chất dân sự, ban đầu tất cả đều dưới sự kiểm soát trực tiếp của triều đình (thậm chí trong giai đoạn đầu nhà vua đưa ra các phán quyết). Trải qua thế kỷ 13 đến thế kỷ 15, tòa án ngày càng độc lập với triều đình, mặc dù nhà vua vẫn nắm quyền chỉ định và cách chức quan tòa.

Mãi cho đến thời Tudor, quyền xét xử giữa ba tòa án chưa được định rõ và việc trả lương cho quan tòa một phần dựa vào việc thu án phí. Điều này dẫn đến nhiều sự cạnh tranh xét xử giữa các tòa án. Ngoài ra, sự tách biệt chức năng của các ngành trong chính phủ vào cuối thế kỷ 14 làm tăng thêm sự phân chia quyền lợi giữa Hội đồng nhà vua, Tòa án triều đình và Nghị viện. Hội đồng nhà vua đồng nhất và liên minh với ngành hành pháp của chính phủ (nhà vua). Tòa án triều đình với bộ máy tư pháp, và Nghị viện như bộ máy lập pháp, nhưng có một số vết tích của bộ máy tư pháp (Hạ viện vẫn là tòa thượng thẩm cao nhất ở Anh). Sự tách biệt các chức năng chính phủ mang lại sự liên kết tư lợi giữa tòa án thông luật và Nghị viện. Tòa án thông luật thừa nhận Nghị viện như một tổ chức mà sự nhất trí của tổ chức này là điều cần thiết để tòa án áp dụng. Phần lớn Luật sư thông thường trong nghị viện đều tin rằng những sai sót trong bộ máy tư pháp phải do Nghị viện sửa chữa, chứ không phải Hội đồng của nhà vua.

2. Hệ thống tư pháp cạnh tranh

Sự liên minh giữa Tòa án thông luật và Nghị viện bắt đầu hàng thế kỷ trước giai đoạn Trọng thương, vào thời điểm này tòa án cartel hóa và xác lập quyền xét xử công ty và chế độ quan liêu. Thực tế cũng có ý nghĩa quan trọng là sự nhận dạng quyền lợi này giữa tòa án và Nghị viện thêm sâu sắc vào năm 1550, phần lớn là do hệ thống pháp lý cạnh tranh dưới hình thức tòa án hoàng gia được thay thế toàn bộ vào triều Elizabeth I.

Hệ thống tư pháp cạnh tranh phát triển từ truyền thống trong luật La Mã (curia regis) tôn trọng quyền lực của triều đình nằm bên ngoài quyền xét xử pháp lý thông thường, vì thế, nằm ngoài tòa án thông luật. Những tòa án khác này tìm thấy trong các ngành thuộc Hội đồng hoàng gia, trong tòa án cấp dưới (Court of Star Chamber) và những bộ phận khác trong ngành hành pháp của chính phủ, như Tòa Đại pháp. Khi Tòa Đại pháp và tòa Star Chamber mở rộng quyền xét xử ở Tòa thông luật, thì họ gặp sự phản kháng mãnh liệt của “cartel”. Một trong những Tòa Đại pháp:

“Phải bỏ mạng trước công kích dai dẳng của luật sư thông luật” (Maitland, Selected Historical Essays, trang 115)

Và sự đối đầu dùng để gia cố sự liên minh giữa Tòa án thông luật và Nghị viện. Khi quyền lực Nghị viện phát triển liên quan với quyền lực triều đình, thì cần phải có sự ủng hộ trong hành động pháp lý, một sự ủng hộ mà tòa thông luật nhiệt tình cung cấp. Mặt khác, ngoài tình trạng bao gồm nhiều cá nhân được đào tạo và có quyền lợi như nhau, tòa án thông luật bị hấp dẫn trước quyền lợi của Nghị viện vì họ xem Nghị viện đơn thuần chỉ là một tòa án thông luật khác (Hạ viện có thể lật ngược mọi phán quyết của tòa án thông luật). Ngoài ra, Nghị viện có thể lập pháp các giới hạn quyền xét xử và những khía cạnh khác trong tòa, nhưng Nghị viện lệ thuộc vào tòa vì tính thường trực và an toàn của luật pháp. Chính dựa vào nền tảng pháp lý này nên phải cân nhắc điều tiết Trọng thương quốc gia.

3. Kết quả cạnh tranh pháp lý và sự bền vững của quyền độc quyền

Kết quả cạnh tranh pháp lý giữa các tòa án của nhà vua và Tòa án thông luật tạo ra sự không chắc chắn đáng kể trên sự bền vững của quyền độc quyền được quyền lực của chính phủ công nhận. Trong hệ thống tòa án cạnh tranh, quyền độc quyền có giá trị ở một tòa án không nhất thiết được xem là giá trị ở một tòa án khác. Vì thế sự che chở đặc quyền độc quyền phụ thuộc vào vận mệnh đang thay đổi của mỗi hệ thống tòa án. Tuy nhiên, để có giá trị trước một quyền lợi đặc biệt, quyền độc quyền phải chắc chắn và bền vững. Do đó, sau khi cạnh tranh pháp lý trở thành thông lệ phổ biến ở Anh, nỗ lực tiếp theo sau của triều đình là xác lập đặc quyền độc quyền ngày càng kém thành công hơn.

4. Độc quyền trong sản xuất nitrat kali và thuốc súng

Với lý do phòng thủ quốc gia, Nữ hoàng Elizabeth I khẳng định quyền bảo chương đối với việc sản xuất nitrat kali và thuốc súng trong những năm 1580. Bà trao quyền độc quyền sản xuất những mặt hàng này cho George và John Evelyn. Gia đình Evelyn sau đó hưởng lợi trong việc chia lợi nhuận với triều đình trong suốt 50 năm, nhưng gặp sự phản kháng liên tục của các thương gia khác, nên cuối cùng tòa án thông luật giảm đặc quyền độc quyền xuống. Sau đó, việc sản xuất các mặt hàng này trở thành đối tượng cạnh tranh công khai.

5. Độc quyền về khai thác muối

Elizabeth I cố bắt chước thuế muối sinh lợi và thành công của vua Pháp, nhưng bà không được thành công như thế. Năm năm sau khi xác lập độc quyền cấp bằng khai thác muối, những người được cấp bằng hủy đầu tư, bỏ lại các thùng chứa muôi khổng lồ nằm rỉ sét trên bờ biển nước Anh. Các nhà Tư bản không có bất kỳ đặc quyền độc quyền nào khác sau đó tham gia vào ngành công nghiệp này, sản xuất có lãi, bán được muối trong hơn ba thập niên sau, bất kể những nỗ lực liên tục của triều đình trong việc tái lập quyền độc quyền (thực ra vấn đề giống như xát muối vào vết thương của chế độ quân chủ).

6. Độc quyền về báo chí

Năm 1588, độc quyền báo chí được cấp cho John Spilman. Ông tuyên bố có phương pháp mới để sản xuất giấy in báo được trắng. Thông thường, bằng sáng chế được cấp nhằm bảo vệ một phát minh hay tiến trình mới không bị Nghị viện và tòa án thông luật phản đôi, nhưng đôi lúc bằng sáng chế được dành để tạo điều kiện cho người sở hữu bằng “nhận chìm” những sản phẩm gần giống. Spilman đã làm như thế vào năm 1597 khi ông được cấp độc quyền đối với mọi loại nhà máy giấy. Tuy nhiên, sự độc quyền này chứng tỏ không khả thi, trong vòng 6 năm, Spilman phải tự bằng lòng với:

“Sự chia sẻ thị trường đang mở rộng như thế đối với ngành giây khi tính hiệu quả của bộ máy, kỹ năng công nhân và vị trí các nhà máy của ông tạo điều kiện cho ông chỉ huy” (Nef, Industry and Government, trang 106).

Kinh nghiệm không may của Elizabeth I trong ban cấp đặc quyền và hoạt động tìm kiếm lợi thu được chấm dứt vào năm 1603, khi ấy dựa vào khả năng cấp độc quyền đánh bạc, cá nhân nữ hoàng tuyên bố những bằng cấp như thế trái với thông luật. Thế nhưng những người kế vị bà cũng có nỗ lực khác.

7. Điều tiết kinh tế sau khi Charles I lên ngôi

Trong thời kỳ chuyển tiếp quyền trị vì giữa Elizabeth I và Charles I (1603-1625), Hạ viện và tòa án thông luật củng cố quyền lực của họ và thành công trong ngăn chặn việc thành lập các độc quyền toàn quốc có tính khả thi, làm cản trở quyền lợi của họ hay lợi nhuận của thương gia liên kết với họ. Sự phản đối này trước quyền được cho là của triều đình trong việc cung cấp điều tiết đạt đỉnh điểm trong năm 1624, lúc ấy Đạo luật về độc quyền nổi tiếng theo luật định đã tước mọi biện pháp của nhà vua trong độc quyền hóa công nghiệp.

Năm 1625, Charles I trị vì nước Anh, nhanh chóng cố tái khẳng định quyền bảo chương để cấp độc quyền bằng giấy phép đăng ký độc quyền hay bằng lệnh của Hội đồng cơ mật. Cùng với bộ trưởng có năng lực và thuyết phục của mình, ngài Francis Bacon, nhà vua tìm thấy kẽ hở trong đạo luật năm 1624, ông cố dàn xếp với nhiều nhà sản xuất lớn trong nhiều ngành công nghiệp, nhất là trong ngành sản xuất phèn và xà phòng. Từ năm 1629 đến 1640, giấy phép độc quyền sản xuất phèn thu được 122.000£ (bảng Anh), trong khi xà phòng là 126.000£. Thái độ dũng cảm của vua Charles I sau cùng khiến ông phải đối đầu với Nghị viện và những nhà lập pháp, một cuộc chiến sau cùng ông thất bại, bị xử trảm vào năm 1649.

Những phân tích trên chứng minh theo chính sách, hay tiến trình, sự phân tích chủ nghĩa Trọng thương, lợi nhuận qua việc tìm kiếm các độc quyền trong khắp nhà nước đều thất bại thảm hại vào thế kỷ 16, đầu thế kỷ 17, khi cuộc đối đầu giữa Nghị viện và nhà vua thêm sâu sắc. Không có nghĩa cuộc xung đột nhất thiết do chính sách độc quyền tạo ra, mà đúng ra xung đột cho dù được tạo ra thế nào đi nữa cũng có những tác dụng phụ quan trọng trong nền kinh tế tìm kiếm lợi thu được của nước Anh trong thời kỳ này. Chắc hẳn “quyền lợi chung” đóng một vai trò trong quyết định kinh điển của các tòa án thông luật Anh chuyển giao việc cấp giấy chứng nhận độc quyền cho Nghị viện. Nhưng thực tế trong liên minh lâu đời hàng thế kỷ giữa tòa án thông luật và Nghị viện cộng với sự kiểm soát của Nghị viện đối với tranh chấp quyền xét xử giữa hai hệ thống tòa án tạo ra động cơ thúc đẩy tư lợi rất mạnh. Thế nhưng vẫn còn một vấn đề quan trọng: Tại sao Nghị viện không thể đem lại chính sách Trọng thương được duy trì thêm lần nữa khi cơ quan này trở thành nhà cung cấp độc quyền quyền lập pháp điều tiết?

Tiêu điểm xung đột giữa Nghị viện và nhà vua trong cuộc chiến cung cấp quyền độc quyền là trong lĩnh vực cấp giấy chứng nhận độc quyền. Quan tâm của Nghị viện giành cho việc hạn chế quyền lực vô hạn của nhà vua trong việc cấp giấy chứng nhận độc quyền. Cuộc chiến cũng không nhằm vào mậu dịch tự do đối với quyền độc quyền của chính phủ mà đúng ra nhắm vào những ai lẽ ra có quyền hạn cung cấp điều tiết kinh tế.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm)