1. Thi hành điều tiết kinh tế địa phương

Khung pháp lý đối với việc thi hành sự điều tiết kinh tế Trọng thương ở mức độ địa phương trình bày trong Đạo luật thợ thủ công của Elizabeth I. Đạo luật này là nỗ lực hệ thống hóa các luật lệ cũ trong việc điều tiết công nghiệp, lao động và phúc lợi. Sự khác biệt quan trọng trong những điều tiết như thế là mang tính chất quốc gia chứ không phải địa phương. Một số tác giả chỉ rõ sự gia tăng tiền lương khổng lồ sau cơn bệnh dịch hạch (thế kỷ 14) như xung lực đối với sự điều tiết quốc gia. Lý do kinh tế trực tiếp chắc chắn là sự bất lực của các thành phố trong việc hạn chế sự lừa gạt trong sự sắp xếp cartel địa phương. (Một cartel - quen thuộc nhất là cartel OPEC - đơn thuần là sự kết hợp chính thức giữa các công ty hoạt động như một nhà độc quyền riêng lẻ dưới một hình thức kiểm soát tập trung. Giá cả và/hoặc phần sản lượng thông thường được phân cho các thành viên trong cartel, và hành vi của họ trong một số cách được giám sát hay khống chế. Các điều kiện luôn bị hạn chế. Caratel có thể do nhà nước hoặc tư nhân tổ chức ra. Có một động cơ rõ ràng để gian lận giá cả cartel hay thỏa thuận sản lượng khi chưa có sự phê chuẩn hợp pháp về sự sắp xếp bởi lẽ mỗi công ty phải thu được nhiều kết quả từ việc giảm giá hay bán ra thị trường được phân công bên ngoài. Vì thế cartel tổ chức cá nhân nhất không ổn định, thường có khuynh hướng tan rã qua thời gian. Vì thế sự thủ đắc điều tiết là biện pháp thông thường (và không tốn kém) đối với một ngành công nghiệp tổ chức như một cartel, vì sự điều tiết tạo ra sự thực thi luật pháp liên tục. Qua sự điều tiết, được những phê chuẩn pháp lý hậu thuẫn chống lại “những kẻ gian lận”, chính phủ cố gắng kiểm soát những khoản như trương mục, giá cả hay lợi nhuận.)

Thành phố cố gắng mua hệ thống điều tiết đồng dạng trên cả nước từ nhà vua, và những quyền độc quyền địa phương này được bảo hộ chống lại sự xâm phạm, nhất là của “những người nước ngoài”. Có nhiều nỗ lực của thương gia tư lợi và các nhà cầm quyền thành phố để điều tiết hoạt động kinh tế và ngăn ngừa những “kẻ xâm phạm quyền lợi của người khác” về đặc quyền địa phương. Những quan điểm này được diễn đạt trong rất nhiều văn kiện thời Tu­dor. Nhất là thành phố London muốn hạn chế người dị chủng và công nghệ nước ngoài làm hạn chế lợi nhuận của thành phố. Giải pháp thường nhất là đề nghị cấm đoán những người lạ ở nông thôn hay cấm đoán những công nhân không hội đủ điều kiện “theo luật định” đối với các ngành nghề khác nhau.

2. Vai trò của thẩm phán hòa giải

Hệ thống độc quyền địa phương đồng dạng trên cả nước phải do các thẩm phán hòa giải thực thi. Như Eli Heckscher nhận xét:

“Thẩm phán hòa giải là tác nhân lập pháp công nghiệp thống nhất” (Mercantil­ism, trang 246), và một số khía cạnh trong hệ thống thực thi này rất quan trọng trong giải thích của chúng ta. Đặc điểm chính trong hệ thống là thẩm phán hòa giải không được hưởng lương. Heckscher cho rằng việc không trả lương cho thẩm phán hòa giải dẫn đến sự “lười biếng” và “tính vô lý” khi thực thi. Nhưng chắc chắn trả lương thấp hay không trả lương xác lập một bối cảnh chín mùi cho hoạt động phi pháp và dẫn đến mẫu tư lợi thực thi - người ta cho rằng cả hai hành động kín đáo và thực thi cartel chọn lọc các ngành công nghiệp trong đó các thẩm phán hòa giải có quyền lợi. Chứng cứ cho thấy điều tiết được thực thi theo cách chẳng hạn như giá trị tịnh của thẩm phán hòa giải đang nắm giữ trong các xí nghiệp điều tiết gia tăng. Điều này thường được thực hiện thông qua cách xử lý thiên vị - công ty có quyền lợi của thẩm phán hòa giải được cho phép lừa gạt cartel, trong khi các công ty khác thì không - hay bằng mua chuộc đối với nhân viên củng cố khác. Hội đồng của Nữ hoàng lệnh rằng chính bản thân các thẩm phán hòa giải phải được các cảnh binh cao cấp khống chế, những người có thẩm quyền không bằng thẩm phán hòa giải thường là người nhận hối lộ, mua chuộc. Vào thời James I trị vì, dư luận cho rằng rất dễ “mua” thẩm phán hòa giải. Năm 1620, bằng chứng sau đây của một ủy viên bất bình đọc trước Nghị viện:

“Cũng có một số bằng sáng chế bản thân chúng chính đáng và hợp pháp, nhưng bị những người cấp bằng lạm dụng trong thủ tục làm chúng có giá trị, họ thực hiện không phải bằng sự tin cậy bệ hạ dành cho mình, và một loại như Bằng cấp cho nhà trọ, nhưng họ lạm dụng những bằng cấp này có giá trị trong việc thành lập Nhà trọ trong rừng hay làng mạc thưa thớt, chỉ làm nơi tá túc của những kẻ lường gạt và trộm cướp, và những thẩm phán hòa giải của quận huyện như thế, vốn là người biết rõ Nhà trọ nên xây dựng ở đâu là thích hợp nhất, và ai là người xứng đáng được cấp bằng như thế, đã tịch thu từ sổ sách của các quán bia, vì lúc này không ai phủ nhận, điều tạo ra một tâm tính tốt”. (Corbbett, Parliamentary History, tập I, trang 1192-1193).

Đề cập “một tâm tính tốt” có nghĩa là thẩm phán hòa giải sẵn sàng cấp giấy phép cho một quán bia miễn là họ đáp lại bằng một đặc ân hay tiền thù lao.

Trong mọi thời đại rất khó tìm thấy chứng cứ chính xác về những giao dịch phi pháp vì không có động cơ nào thúc đẩy, nhưng trong trường hợp chủ nghĩa Trọng thương bằng chứng của những người quan sát đương đại có vẻ chứng thực cho quan điểm những người thực thi điều tiết Trọng thương trong nước đều là những bên tư lợi. Vì thế, khẳng định rằng người thực thi đều dửng dưng và khinh suất bởi lẽ họ không được trả lương chất phác khi nhìn lại quá khứ. Thuyết kinh tế học hiện đại khiến chúng ta phải nghĩ rằng hành động phi pháp là một phản ứng có thể đoán trước đối với lương thấp trong những nghề nghiệp nơi mà yếu tố “tin cậy” là quan trọng nhất. Chính vì phí tổn cơ hội đối với người hành động phi pháp trong trường hợp bị bắt (hay bị bắn) là thấp. Từ quan điểm tư lợi, hành vi của thẩm phán hòa giải trong kỷ nguyên Trọng thương hoàn toàn hiệu quả và có thể dự đoán, căn cứ vào những hạn chế do Đạo luật thợ thủ công áp đặt.

3. Điều tiết địa phương và sự di chuyển tài nguyên

Đối với những ai gặp khó khăn nào khác trong việc thực thi hệ thống điều tiết địa phương của Elizabeth I đều có khả năng thoát khỏi quyền lực của luật pháp bằng cách dọn nhà ra ngoài thành phố. Dù nỗ lực hạn chế sự di chuyển, có chứng cứ cho thấy nguyên tắc rõ ràng bị xem nhẹ. Sự di chuyển của thợ thủ công đến vùng nông thôn thực ra bị đổ lỗi cho tình trạng suy tàn, không cải thiện và đổ nát của thành phố (Tawney và Power, Tudor Economic Documents, I, trang 353-365). Về phần mình, thẩm phán hòa giải thêm một lần nữa “thực thi” đạo luật theo cách khác hẳn với ý định của triều đình.

Kết quả, người mua và người bán chuyển đến vùng chưa điều tiết thuộc ngoại ô hay nông thôn, và sự tồn tại bộ phận chưa điều tiết này tạo ra động cơ thúc đẩy rất mạnh nhằm phá hủy sự sắp xếp cartel địa phương trong thành phố.

Tuy nhiên, trong khía cạnh này, sự điều tiết nội bộ khác hẳn Pháp. Theo Heckscher:

“Sự khác biệt quan trọng nhất là nhiều quận quan trọng được tự do không áp dụng đạo luật như ở Anh, trong khi ở Pháp về nguyên tắc không có gì còn lại là không điều tiết, chỉ trừ một số ngoại lệ phụ thuần túy hay các điểm không quan trọng” (Mercantilism, trang 266).

Nông thôn Anh không có vẻ được “tự do” trong bất kỳ hành động chính sách có nhận thức, thận trọng nào. Thay vì các nguồn kinh tế đơn thuần hưởng ứng động cơ do mẫu thực thi điều tiết địa phương tạo ra được thẩm phán hòa giải thực hiện đến cùng. Sự di chuyển ra khỏi thành phố đơn thuần là cách dành cho một số thợ thủ công và thương gia để giảm phí tổn hoạt động của họ.

Sự di chuyển để tránh sự điều tiết cartel địa phương không phải là sự di chuyển thật xa. Vùng ngoại vi thành phố đầy ắp thợ thủ công hoặc không gia nhập phường hội hoặc muốn thoát khỏi sự kiểm soát của cartel. Nhiều nỗ lực khác nhau mang những “kẻ lừa đảo” này vào sự kiểm soát chứng tỏ là vô ích, vì tính chất thương mại tiến hành giống với tính chất phân tán đều khắp các chợ trời. Adam Smith minh họa điều này như sau:

“Nếu bạn thực hiện công việc của mình ở mức độ khá tốt, thì nên thực hiện ở vùng ngoại ô nơi những người lao động không có đặc quyền độc quyền, không có gì cả ngoài đặc điểm phải phụ thuộc, khi đó bạn phải mang lén vào thành phố càng nhiều càng tốt” (Wealth of Nations, trang 313).

4. Sự không hiệu quả của bộ máy cartel thời Elizabeth I

Sự lường gạt cartel địa phương vì thế trở thành một mệnh lệnh kinh tế trong thời đại, và sự thiếu thành công của nhà nước trong giải quyết vấn đề là bằng chứng phong phú cho tính chất không hiệu quả của bộ máy cartel thời Elizabeth I.

Đôi lúc triều đình đánh trả lại bằng cách tạo ra những sắp xếp gia tăng tính thực thi hiệu quả. Ví dụ, Elizabeth I tạo ra thông lệ cấp cho triều thần sủng ái của bà quyền chọn mức phạt về tội vi phạm luật điều tiết. Sau cùng quyền này được bán cho người bỏ thầu giá cao nhất, người trúng thầu giữ cho mình bất cứ những gì mình có thể sưu tập. Vì một số vi phạm (như bằng sáng chế) sưu tập có lợi hơn các món khác, nên việc thực thi vẫn bất công và lĩnh vực chưa được điều tiết của nền kinh tế khá lớn vẫn tồn tại dai dẳng.

Cuối cùng, Đạo luật thợ thủ công chứa đựng các biện pháp phá hoại của chính nó. Hành vi của thẩm phán hòa giải không lương và khả năng của công ty thoát khỏi sự điều tiết là hai yếu tố chính giúp gỡ bỏ sự điều tiết Trọng thương địa phương trong thời gian dài.

5. Bộ máy Tư pháp Trọng thương và sự tan rã của những Độc quyền Quốc gia

Trong một hệ thống điều tiết quốc gia, cách duy nhất thoát khỏi quyền xét xử theo luật định là phải bỏ xứ, điều đó khó khăn hơn và tốn kém hơn việc dọn nhà từ thành phố ra ngoại ô. Vì thế, sự vắng mặt một biện pháp thay thế không điều tiết, có thể tồn tại mang lại nhiều sắp xếp cartel ổn định hơn những sắp xếp mô tả trong phần trước. Vì thế, việc gỡ bỏ các độc quyền quốc gia phải được giải thích bằng sự thay đổi những hạn chế trong hoạt động kinh tế trong nước Anh Trọng thương.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm)