Theo Điều 8 Thông tư 09/2021/TT-BTNMT sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 11 Thông tư 37/2014/TT-BTNMT quy định như sau:
1. Tố chức, hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp không phải là đất ở khi Nhà nước thu hồi đất mà phần diện tích đất còn lại của thửa đất sau thu hòi không đủ điều kiện để tiếp tục sử dụng theo quy định của ủy ban nhân dân cấp tỉnh, nếu người sử dụng đất có đơn đề nghị thu hồi đất thì ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định thu hồi đất và thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ theo quy định của pháp luật.
2. Kinh phí bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất đối với trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này phải được thể hiện trong phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và được tính vào kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của dự án đầu tư.
Luật Minh Khuê phân tích chi tiết quy định pháp lý về vấn đề trên như sau:
1. Trường hợp nào được thu hồi đất?
Theo quy định tại Điều 16 Luật Đất đai năm 2013, Nhà nước quyết định thu hồi đất trong các trường hợp sau:
Thứ nhất, thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng.
Nhà nước tiến hành thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh trong các trường hợp sau đây: làm nơi đóng quân, trụ sở làm việc; xây dựng căn cứ quân sự; xây dựng công trình phòng thủ quốc gia, trận địa và công trình đặc biệt về quốc phòng, an ninh; xây dựng ga, cảng quân sự; xây dựng kho tàng của lực lượng vũ trang nhân dân;....
Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng trong các trường hợp sau: (1) thực hiện các dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư mà phải thu hồi đất; (2) thực hiện các dự án do Thủ tướng Chính phủ chấp thuận, quyết định đầu tư mà phải thu hồi đất (như: dự án xây dựng khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế; dự án đầu tư bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức; dự án xây dựng trụ sở cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương; công trình di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh được xếp hạng cấp quốc gia...) và (3) thực hiện các dự án do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh chấp thuận mà phải thu hồi đất (như: dự án xây dựng trụ sở cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; công trình di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh được xếp hạng cấp địa phương; dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật của địa phương;...)
Thứ hai, thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai.
Những trường hợp thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai bao gồm:
- Sử dụng không đúng mục đích đã được Nhà nước giao, cho thuê, công nhận quyền sử dụng đất và đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng đất không đúng mục đích mà tiếp tục vi phạm;
- Người sử dụng đất cố ý hủy hoại đất;
- Đất không được chuyển nhượng, tặng cho mà nhận chuyển nhượng, tặng cho;
- Đất được Nhà nước giao để quản lý mà để bị lấn, chiếm;
- Đất không được chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai mà người sử dụng đất do thiếu trách nhiệm để bị lấn, chiếm;
- Đất trồng cây hàng năm không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liên tục, đất trồng cây lâu năm không được sử dụng trong thời hạn 18 tháng liên tục, đất trông rừng không được sử dụng trong thời hạn 24 tháng liên tục;....
- Khi thu hồi đất đai do vi phạm pháp luật về đất đai phải căn cứ vào văn bản, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi vi phạm pháp luật về đất đai.
Thứ ba, thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người.
Các trường hợp thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người, bao gồm:
- Tổ chức được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất, được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước bị giải thể, phá sản, chuyển đi nơi khác, giảm hoặc không còn nhu cầu sử dụng đất; người sử dụng đất thuê của Nhà nước trả tiền thuê đất hàng năm bị giải thể, phá sản, chuyển đi nơi khác, giảm hoặc không còn nhu cầu sử dụng đất;
- Cá nhân sử dụng đất chết mà không có người thừa kế;
- Người sử dụng đất tự nguyện trả lại đất;
- Đất được Nhà nước giao, cho thuê có thời hạn nhưng không được gia hạn;
- Đất ở trong khu vực bị ô nhiễm môi trường có nguy cơ đe dọa tính mạng con người;
- Đất ở có nguy cơ sạt lở, sụt lún, bị ảnh hưởng bởi hiện tượng thiên tai khác đe dọa tính mạng con người.
Khi thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người thì cần căn cứ vào: văn bản của cơ quan có thẩm quyền giải quyết đã có hiệu lực pháp luật; Giấy chứng tử hoặc quyết định tuyên bố một người là đã chết theo quy định của pháp luật và văn bản xác nhận không có người thừa kế của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thường trú của người để thừa kế đã chết; Văn bản trả lại đất của người sử dụng đất; Quyết định giao đất, quyết định cho thuê đất;.....
Cơ quan có thẩm quyền thu hồi đất được quy định tại Điều 66 Luật Đất đai năm 2013 như sau:
+ Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thu hồi đất trong các trường hợp sau: thu hồi đất đối với tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức ở nước ngoài có chức năng ngoại giao, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (trừ trường hợp thu hồi đất ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam); thu hồi đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn.
+ Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thu hồi đất trong các trường hợp sau: thu hồi đất đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư; thu hồi đất ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam.
2. Đất không đủ điều kiện để tiếp tục sử dụng sau khi thu hồi có được bồi thường?
* Thu hồi đất ở:
- Thu hồi đất ở từ hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đang sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất tại Việt Nam:
Theo khoản 1 Điều 6 Nghị định 47/2014/NĐ-CP, trường hợp Nhà nước bồi thường, hỗ trợ đối với phần diện đất còn lại sau khi thu hồi không đủ điều kiện để tiếp tục sử dụng:
- Hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đang sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất tại Việt Nam khi Nhà nước thu hồi đất ở mà có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng phần còn lại không đủ điều kiện ở và không còn đất ở, nhà ở nào khác trong xã nơi có đất ở thì được bồi thường đất ở hoặc nhà ở tái định cư.
- Hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đang sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất tại Việt Nam khi Nhà nước thu hồi đất ở mà có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng phần còn lại không đủ điều kiện ở và người sử dụng đất có đất bị thu hồi vẫn còn đất ở, nhà ở khác trong xã thì được bồi thường bằng tiền. Trường hợp địa phương có điều kiện về quỹ đất ở thì được xem xét để bồi thường bằng đất ở.
Ngoài ra, trường hợp thu hồi đất ở trong khu vực bị ô nhiễm môi trường có nguy cơ đe dọa tính mạng con người; đất ở có nguy cơ bị sạt lở, sụt lún, bị ảnh hưởng bởi hiện tượng thiên tai khác đe dọa đến tính mạng con người cũng được thực hiện theo trường hợp trên.
Nếu phần đất ở của hộ gia đình, cá nhân bị sạt lở, sụt lún bất ngờ một phần diện tích thửa đất mà phần còn lại không còn khả năng tiếp tục sử dụng thì được nhà nước bố trí đất ở tái định cư: diện tích đất ở tái định cư do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào điều kiện cụ thể của địa phương quy định nhưng không được vượt quá hạn mức giao đất ở tại địa phương.
Tiền bồi thường, hỗ trợ đối với diện tích thu hồi đất để bố trí tái định cư được giải quyết:
+ Trường hợp thu hồi đất ở do thiên tai gây ra thì nhà nước lấy ngân sách nhà nước chi trả
+ Trường hợp thu hồi đất ở trong khu vực bị ô nhiễm môi trường có nguy cơ đe dọa tính mạng con người do doanh nghiệp gây ra thì doanh nghiệp đó sẽ chi trả. Nếu doanh nghiệp đã giải thể, phá sản thì tiền bồi thường, hỗ trợ do ngân sách nhà nước chi trả.
Do đó, hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đang sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất tại Việt Nam mà có Giấy chứng nhận hoặc đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận và khi Nhà nước thu hồi đất thì phần diện tích còn lại không đủ điều kiện để ở thì xét hai trường hợp: người sử dụng đất không còn đất ở hay nhà ở nào khác trong xã nơi có đất ở thì được bồi thường đất ở hoặc nhà ở tái định cư còn người sử dụng đất vẫn còn đất ở hoặc nhà ở khác trong xã thì được bồi thường bằng tiền (nếu địa phương có điều kiện về quỹ đất ở thì được xem xét để bồi thường bằng đất ở).
- Thu hồi đất thực hiện dự án xây dựng nhà ở từ tổ chức kinh tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu từ nước ngoài:
Và khoản 6 Điều 6 Nghị định 47/2014/NĐ-CP, tổ chức kinh tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang sử dụng đất để thực hiện dự án xây dựng nhà ở và có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất nhưng chưa được cấp nên khi nhà nước thu hồi một phần diện tích đất của dự án mà phần diện tích còn lại không đủ điều kiện để tiếp tục thực hiện dự án thì được bồi thường bằng đất để thực hiện dự án hoặc bồi thường bằng tiền.
* Thu hồi đất nông nghiệp và đất phi nông nghiệp (không phải là đất ở):
- Thu hồi đất phi nông nghiệp giao đất không thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất trả tiền thuê đất hằng năm của cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo:
Điểm b khoản 2 Điều 5 Nghị định 47/2014/NĐ-CP quy định bồi thường về đất, chi phí đầu tư vào đất còn lại khi Nhà nước thu hồi đất do cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo đang sử dụng như sau: đất phi nông nghiệp có nguồn gốc do Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm thì không được bồi thường về đất nhưng được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại (nếu có).
Khi thu hồi một phần diện tích mà phần diện tích đất còn lại không đủ điều kiện để tiếp tục sử dụng, mà cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo còn có nhu cầu sử dụng đất vào mục đích chung của cộng đồng thì được Nhà nước giao đất mới tại nơi khác nhưng phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
- Thu hồi đất nghĩa trang, nghĩa địa từ tổ chức kinh tế:
Tại điểm a khoản 1 Điều 8 Nghị định 47/2014/NĐ-CP, khi Nhà nước thu hồi đất nghĩa trang, nghĩa địa của tổ chức kinh tế mà phần diện tích đất còn lại không đủ điều kiện để tiếp tục thực hiện dự án xây dựng nghĩa trang, nghĩa địa thì chủ dự án được Nhà nước bồi thường bằng việc giao đất mới có cùng mục đích sử dụng nếu dự án đã có chuyển nhượng quyền sử dụng đất gắn với hạ tầng; được bồi thường bằng tiền nếu dự án đang trong thời gian xây dựng kết cấu hạ tầng và chưa có chuyển nhượng quyền sử dụng đất gắn với hạ tầng đó.
- Thu hồi đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp không phải là đất ở từ tổ chức, hộ gia đình, cá nhân:
Theo quy định tại khoản 3 Điều 8 Thông tư 09/2021/TT-BTNMT, quy định về bồi thường, hỗ trợ đối với phần diện tích đất còn lại sau thu hồi không đủ điều kiện để tiếp tục sử dụng:
Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp không phải là đất ở khi nhà nước thu hồi đất mà phần diện tích còn lại của thửa đất sau thu hồi không đủ điều kiện để tiếp tục sử dụng theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, nếu người sử dụng đất có đơn đề nghị thu hồi đất thì Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định thu hồi đất và thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ theo quy định của pháp luật. Khoản kinh phí bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất phải được thế hiện trong phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và được tính vào kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của dự án đầu tư.
Nếu bạn đọc có bất kỳ vướng mắc nào liên quan đến vấn đề này hay vấn đề pháp lý khác thì vui lòng liên hệ tới bộ phận tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến của Luật Minh Khuê qua số 1900.6162 để được hỗ trợ kịp thời. Xin chân thành cảm ơn!