1. Nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia

Ta có thể hiểu chủ quyền quốc gia là thuộc tính chính trị - pháp lý không thể tách rời của quốc gia, bao gồm 2 nội dung chủ yếu là quyền tối cao của quốc gia trong phạm vi lãnh thổ của mình và quyền độc lập của quốc gia trong quan hệ quốc tế. Trong phạm vi lãnh thổ của mình, quốc gia thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp mà không có bất kỳ sự can thiệp nào từ bên ngoài, nhưng phải dựa trên cơ sở ý chỉ chủ quyền của nhân dân. Trong quan hệ quốc tế, quyền độc lập của mỗi Quốc gia thể hiện qua quyền tự quyết mọi vấn đề đối nội và đối ngoại mà không có sự áp đặt từ chủ thể khác, trên cơ sở tôn trọng chủ quyền của mọi quốc gia trong cộng đồng quốc tế.

* Nội dung của nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia

Nội dung của nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia được thể hiện như sau:

- Tôn trọng chủ quyền quốc gia trước hết là tôn trọng quyền lực tối cao của quốc gia trong phạm vi lãnh thổ quốc gia và độc lập của quốc gia trong quan hệ quốc tế. Tôn trọng chủ quyền các quốc gia khác là nghĩa vụ bắt buộc, vô điều kiện.

- Tôn trọng chủ quyền quốc gia cũng có nghĩa là tôn trọng quyền của mỗi quốc gia tự do lựa chọn cho mình chế độ chính trị, kinh tế xã hội. Các quốc gia khác không có quyền phản đối hay bác bỏ sự lựa chọn đó. Việc gây sức ép hay can thiệp nhằm bắt các quốc gia từ bỏ chế độ chính trị, kinh tế xã hội mà quốc gia đó đã lựa chon là việc làm phi pháp.

- Tôn trọng chủ quyền quốc gia cũng có nghĩa là tôn trọng sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, được ghi nhận và khẳng định trong hiến chương liên hợp quốc.

 

2. Nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia

2.1 Sự hình thành nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia

 Nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền của các quốc gia đã xuất hiện từ sớm trong đời sống quốc tế. Nó được hình thành trong giai đoạn loài người chuyển từ chế độ phong kiến sang chế độ tư bản chủ nghĩa và trở thành nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế thời kỳ tư bản chủ nghĩa. Tuy nhiên cũng giống như các nguyên tắc khác trong thời kỳ này nguyên tắc này chỉ được áp dụng để điều chỉnh các mối quan hệ giữa các quốc gia nhất định: bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia văn minh.

 

2.2 Nội dung của nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia

Nội dung của nguyên tắc này được thể hiện như sau:

- Chủ quyền là thuộc tính chính trị pháp lý không thể tách rời của một quốc gia, bao gồm hai nội dung cơ bản là quyền tối cao của quốc gia trong phạm vi lãnh thổ của mình và quyền độc lập của quốc gia trong quan hệ quốc tế.

- Bình đẳng về quyền chủ quyền của các quốc gia có các nội dung chính sau:

  •  Các quốc gia bình đẳng về mặt pháp lý
  • Mỗi quốc gia có chủ quyền hoàn toàn đầy đủ
  •  Mỗi quốc gia có nghĩa vụ tôn trọng quyền năng chủ thể của các quốc gia khác
  • Sự toàn vẹn lãnh thổ và tính độc lập về chính trị là bất di bất dịch
  • Mỗi quốc gia có quyền tự do lựa chọn và và phát triển chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của mình
  • Mỗi quốc gia có nghĩa vụ thực hiện đầy đủ và tận tâm các nghĩa vụ quốc tế của mình và tồn tại hòa bình cùng các quốc gia khác

- Mỗi quốc gia có các quyền chủ quyền bình đẳng sau:

  •  Được tôn trọng về quốc thể, sự thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ về chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa
  • Được tham gia giải quyết các vấn đề có liên quan đến lợi ích của mình
  • Được tham gia tổ chức quốc tê, hội nghị quốc tế với các lá phiếu có giá trị ngang nhau
  • Được ký kết và gia nhập các điều ước quốc tế liên quan
  • Được tham gia xây dựng pháp luật quốc tế, hợp tác quốc tế bình đẳng với các quốc gia khác
  • Được hưởng đầy đủ các quyền ưu đãi, miễn trừ và gánh vác các nghĩa vụ như các quốc gia khác

 

2.3 Ngoại lệ của nguyên tắc này

- Trường hợp các quốc gia tự hạn chế chủ quyền của mình: Đây là trường hợp các quốc gia lựa chọn tự hạn chế chủ quyền của mình bằng cách trao quyền cho một thể chế khác được thay mặt mình trog các hoạt động liên quan đến lợi ích quốc gia.

- Trường hợp các quốc gia bị hạn chế chủ quyền: Trường hợp này chỉ đặt ra đối với các chủ thể có hành vi vi phạm nghiêm trọng pháp luật quốc tế, và việc bị hạn chế chủ quyền là một biện pháp trừng phạt từ phía cộng động quốc tế đối với các quốc gia vi phạm.

 

3. Nguyên tắc dân tộc tự quyết

3.1 Sự hình thành của nguyên tắc dân tộc tự quyết

- Trước chiến tranh thế giới thứ nhất, nguyên tắc dân tộc tự quyết chỉ là một nguyên tắc có tính chính trị trong phạm trù ý thức pháp luật của các dân tộc. Sau cách mạng tháng 10 Nga nguyên tắc này đã trở thành một nguyên tắc của luật quốc tế nhưng vẫn chưa được phổ cập rộng rãi. Sau chiến tranh thế giới thứ hai nguyên tắc này đã được khẳng địnhvà ghi nhận trong nhiều văn bản pháp lý quốc tế và là cơ sở pháp lý cho phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới.

- Nội dung pháp lý của nguyên tắc này được thể hiện đầu tiên tại tuyên bố ngày 24/10/1970 và nghị quyết 1514 (XV) ngày 14/12/1960 của Đại hội đồng Liên hợp quốc về trao trả độc lập cho các dân tộc thuộc địa.

- Quyền dân tộc tự quyết được hiểu theo nghĩa là việc một dân tộc hoàn toàn tự do trong việc tiến hành cuộc đấu tranh giành độc lập, cũng như lựa chọn thể chế chính trị, đường lối phát triển đất nước. Tôn trọng quyền dân tộc tự quyết trở thành nguyên tắc pháp lý quốc tế, được ghi nhận trong hiến chương Liên hợp quốc và nhiều văn bản pháp lý quốc tế quan trọng như: Tuyên bố trao trả  độc lập cho các nước và dân tộc thuộc địa năm 1960, hai công ước về các quyền dân sự chính trị, quyền kinh tế - xã hội – văn hóa năm 1966…

 

3.2 Nội dung của nguyên tắc

Nội dung của nguyên tắc này được thể hiện như sau:

- Được thành lập quốc gia độc lập hay cùng với các dân tộc khác thành lập quốc gia liên bang (hoặc đơn nhất) trên cơ sở tự nguyện.

- Tự lựa chọn cho mình chế độ chính trị, kinh tế, xã hội.

- Tự giải quyết các vấn đề đối nội không có sự can thiệp từ bên ngoài.

- Quyền của các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc tiến hành đấu tranh, kể ca đấu tranh vũ trang, để giàng độc lập và nhận sự giúp đỡ và ủng hộ từ bên ngoài, kể cả giúp đỡ về quân sự.

- Tự lựa chọn con đường phát triển phù hợp với truyền thống lịch sử văn hóa, tín ngưỡng, điều kiện địa lý.

 

4. Nguyên tắc cấm dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế

4.1 Sự hình thành nguyên tắc

- Khoản 4 điều 2 hiến chương Liên hợp quốc quy định “tất cả các nước thành viên Liên hợp quốc trong quan hệ quốc tế không được đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng vũ lực chống lại sự toàn vẹn lãnh thổ hay nền độc lập chính trị của bất kỳ quốc gia nào, hoặc nhằm những mục đích khác không phù hợp với mục đích của Liên hợp quốc”.

- Nguyên tắc còn được chi tiết hóa trong một số nghị quyết của đại hội đồng Liên hợp quốc, như nghị quyết định nghĩa về chiến tranh xâm lược 1974, tuyên bố về nỗ lực tăng cường hiệu lực của nguyên tắc khước từ đe dọa vũ lực và dùng vũ lực 1987.

 

4.2 Nội dung của nguyên tắc

Nguyên tắc này có các nội dung cụ thể như sau:

- Cấm xâm chiếm lãnh thổ quốc gia khác trái với các quy phạm của luật quốc tế.

- Cấm các hành vi trấn áp bằng vũ lực.

- Không được cho quốc gia khác sử dụng lãnh thổ nước mình để tiến hành xâm lược chống quốc gia thứ 3.

- Không tổ chức, xúi giục, giúp đỡ hay tham gia vào nội chiến hay các hành vi khủng bố tại quốc gia khác.

- Không tổ chức hoặc khuyến khích việc tổ chức các băng nhóm vũ trang, lực lượng vũ trang phi chính quy, lính đánh thuê để đột nhập vào lãnh thổ quốc gia khác.

- Hiến chương Liên hợp quốc quy định  các biện pháp vũ lực hợp pháp để chống lại xâm lược, thực hiện quyền tự vệ nhằm bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia. Các điều từ 42 đến 47 và điều 51 của hiến chương quy định về những trường hợp sử dụng vũ lực hợp pháp; còn điều 41 và 50 thì lại quy định về trường hợp sủ dụng hợp pháp sức mạnh phi vũ trang (cắt đứt 1 phần hoặc hoàn toàn quan hệ kinh tế, giao thông, phương tiện thông tin, ngoại giao…)

- Riêng đối với Hội đồng bảo an, điều 42 Hiến chương quy định, tùy từng trường hợp nếu những biện pháp phi quân sự được khuyến nghị không đủ để giải quyết tranh chấp thì hội đồng bảo an có thể tiến hành các biện pháp cần thiết, như sử dụng lực lượng không quân, hải quân, lục quân để duy trì hoặc lập lại hòa bình, an ninh quốc tế.

 

5. Nguyên tắc hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế

5.1 Sự hình thành nguyên tắc

Nguyên tắc này là hệ quả pháp lý tất yếu của nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, bởi nguyên tắc cấm sử dụng và đe dọa sử dụng vũ lực se không có giá trị pháp lý ràng buộc các chủ thể luật quốc tế nếu không có các nguyên tắc hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế.

 

5.2 Nội dung của nguyên tắc

Nguyên tắc này có nội dung cơ bản như sau:

- Tranh chấp quốc tế là sự xung đột trong quan hệ do có những ý kiến trái ngược, do có những đòi hỏi, yêu sách không được chấp nhận, do có sự xung đột về quyền lợi… từ đó làm nảy sinh xung đột, mâu thuẫn.

- Nguyên tắc được ghi nhận trong các văn bản sau:

  •  Hiến chương Liên hợp quốc (điều 2 mục 3). Điều 33, 38 quy định những biện pháp, phương thức giải quyết tranh chấp quốc tế.
  • Hiệp ước pari về khước từ chiến tranh 1928.
  • Văn kiện cuối cùng của hội nghị Henxinki 1975 về an ninh và hợp tác châu âu…

Nội dung của các văn bản được thể hiện như sau:

+ Tất cả các quốc gia giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng biện pháp hòa bình, không phương hại đến hòa bình, an ninh và công lý quốc tế. Các biện pháp hòa bình có thể là đàm phán, trung gian, hòa giải, trọng tài hoặc tòa án,...

+ Trong trường hợp không đạt được một giải pháp để giải quyết tranh chấp với các biện pháp trên , các bên có nghĩa vụ tiếp tục tìm kiếm các biện pháp hòa bình khác đẻ giải quyết tranh chấp mà các bên đã thỏa thuận.

+ Các quốc gia trong tranh chấp có nghĩa vụ từ bỏ bất kỳ hành vi nào có thể làm trầm trọng thêm tình hình hiện tại và gây nguy hiểm cho việc gìn giữ hòa bình và an ninh thế giới, có nghĩa vụ hành động phù hợp với mục đích và nguyên tắc của Liên hợp quốc.

+ Các tranh chấp quốc tế được giải quyết trên cơ sở bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia và phù hợp với tự do lựa chọn cách thức giải quyết tranh chấp.

+ Không có điều nào nói trên có ảnh hưởng hoặc phương hại đến những điều khoản có thể áp dụng của Hiến chương, đặc biệt là những điều khoản liên quan đến việc giải quyết hòa bình và tranh chấp quốc tế

- Đàm phán trực tiếp là biện pháp tốt nhất để giải quyết nhanh chóng tranh chấp quốc tế, bảo đảm quyền bình đẳng của các bên, dễ đi đến thỏa thuận nhượng bộ lẫn nhau.

 

6. Nguyên tắc tôn trọng quyền cơ bản của con người

* Sự hình thành nguyên tắc

- Từ thời xa xưa nhất của trật tự xã hội và tôn giáo của loài người thì ta vẫn có thể nhận thấy ít nhiều có sự thừa nhận rằng mỗi người đều có giá trị cá nhân bẩm sinhđòi hỏi cần có một mức độ ghi nhận, tôn trọng và bảo vệ nhất định.

- Trước chiến tranh thế giới thứ hai đã có một số điều ước quốc tế về bảo vệ quyền con người hoặc liên quan đến bảo vệ quyền con người trong một số lĩnh vực. Song việc bảo vệ quyền con người vẫn chưa được đề cập một cách tổng thể như một nguyên tắc chung trong quan hệ quốc tế.

- Trong xuất thế kỷ XX quyền con người đã phát triển như một khuôn khổ đạo đức, chính trị, pháp lý. Sau khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc sự ra đời của Liên hợp quốc đã đánh dấu bước phát triển quan trọng nhất đối với luật quốc tế về quyền con người.

- Sau hiến chương Liên hợp quốc là hàng trăm văn kiện pháp lý quốc tế quan trọng về quyền con người đã được xây dựng và thông qua.

- Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của quan hệ quốc tế, cuộc đấu tranh xung quanh vấn đề nhân quyền đã vượt khỏi phạm vi quốc gia và trở thành một trong những vấn đề quan tâm số 1 của mỗi quốc gia và của cả cộng đồng quốc tế.

* Nội dung của nguyên tắc

- Quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của con người.

- Về mặt lý luận cũng như trên thực tế tôn trọng các quyền cơ bản của con người là tôn trọng các quyền không thể thiếu để cá nhân con người có thể tồn tại và phát triển một cách bình thường với tư cách là một thành viên của cộng đồng xã hội trong một giai đoạn lịch sử nhất định. Các quyền đấy bao gồm quyền dân sự, chính trị, quyền kinh tế, xã hội văn hóa.

- Tất cả các quốc gia có nghĩa vụ tôn trọng, bảo đảm các quyền cơ bản của con người trên tất cả các lĩnh vực chính trị, dân sự, kinh tế - xã họi và văn hóa, hợp tác với các quốc gia trong việc bảo vệ và phát triển quyền con người, thực hiện các cam kết quốc teesveef bảo vệ quyền cơ bản của con người.

 

7. Nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác với nhau

* Sự hình thành nguyên tắc

- Ngay từ thời kỳ đầu xuất hiện nhà nước, sự liên kết và hợp tác giữa các quốc gia đã được thiết lập ở các khu vực địa lý khác nhau, tuy nhiên sự hợp tác đó chỉ dừng lại ở những vấn đề cơ bản.

- Sau chiến tranh thế giới thứ 2 đứng trước vấn đề mang tính toàn cầu như chiến tranh, hòa bình, y tế, nhân đạo,....cộng đồng quốc tế đã xác định hợp tác quốc tế để giải quyết các vấn đề chung của cộng đồng là một nghĩa vụ pháp lý. Vì vậy sau chiến tranh thế giới thứ 2 nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác với nhau đã trở thành một nguyên tắc quan trọng của luật quốc tế.

- Ý tưởng về hợp tác giữa các quốc gia lần đầu tiên được thể hiện trong hiến chương Liên hợp quốc tại Khoản 3 Điều 4.

- Tuyên bố ngày 24/10/1970 nguyên tắc, này cùng nội dung pháp lý của nó mới dược xác lập một cách chính thức.

* Nội dung của nguyên tắc

- Quốc gia phải hợp tác với quốc gia khác trong việc duy trì hòa bình và an ninh quốc tế.

- Các quốc gia phải hợp tác để khuyến khích sự tôn trọng chung và tuân thủ quyền con người và các quyền tự do cơ bản khác của cá nhân, thủ tiêu các hình thức phân biệt tôn giáo, sắc tộc, chủng tộc.

- Các quốc gia phải tiến hành quan hệ quốc tế trong lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa, thương mại và kỹ thuật, công nghệ theo các nguyên tắc bình đẳngvề chủ quyền không can thiệp vào công việc nội bộ.

- Các quốc gia thành viên Liên hợp quốc phải thực hiện các hành động chung hay riêng trong việc hợp tác với Liên hợp quốc theo quy định  của Hiến chương.

- Các quốc gia phải  hợp tác trong lĩnh vực kinh tế, xã hội và văn hóa, khoa học, công nghệ nhằn khuyến khích sự tiến bộ về văn hóa, giáo dục, phát triển kinh tế toàn thế giới, đặc biệt là tại các nước đang phát triển.

 

8. Nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác

* Sự hình thành nguyên tắc

- Nguyên tắc này được hình thành trong thời kỳ cách mạng tư sản cuối thế kỷ thứ 18, với tiền đề là quy định trong bản Hiến pháp của nhà nước tư sản Pháp.

- Đến năm 1945, Hiến chương Liên hợp quốc lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại đã ghi nhận “ không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia khác” là một trong những nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế hiện đại

* Nội dung của nguyên tắc

- Cấm can thiệp vũ trang và các hình thức can thiệp hoặc đe dọa can thiệp khác nhau nhằm chống lại quyền năng chủ thể hoặc nền tảng chính trị, kinh tế và văn hóa của quốc gia.

- Cấm sử dụng các biện pháp kinh tế, chính trị, để buộc quốc gia khác phụ thuộc vào mình.

- Cấm tổ chức, khuyến khích, giúp đỡ các băng đảng, nhóm vũ trang hoạt động phá hoại, khủng bố trên lãnh thổ nước khác nhằm lật đổ chính quyền của nước đó.

- Cấm can thiệp vào cuộc đấu tranh nội bộ của quốc gia khác.

- Tôn trọng quyền của mỗi quốc gia tự do lựa chọn cho mình hệ thống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội mà không có sự can thiệp từ phía quốc gia khác.

* Ngoại lệ của nguyên tắc 

- Khi có xung đột vũ trang nội bộ ở quốc gia đã đến mức độ nghiêm trọng và có thể gây ra mất ổn định trong khu vực, đe dọa hòa bình và an ninh quốc tế - thông qua Hội đồng bảo an Liên hợp quốc – được quyền can thiệp trực tiếp hoặc dán tiếp vào cuộc xung đột này.

- Liên hợp quốc được quyền can thiệp vào quốc gia nào đó có sự vi phạ nghiêm trọng các quyền cơ bản của con người như phân biệt chủng tộc, diệt chủng hoặc vi phạm nghĩa vụ pháp lý quốc tế quan trọng khác đe dọa hòa bình và an ninh quốc tế.

 

9. Nguyên tắc tự nguyện thực hiện các cam kết quốc tế

* Sự hình thành nguyên tắc

Nguyên tắc này có tính lịch sử lâu đời nhất trong số các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế. Nguyên tắc này được hình thành từ thời chiếm hữu nô lệ, tiền thân của nó là nguyên tắc tuân thủ điều ước quốc tế xuất hiện từ thời La Mã cổ đại và tồn tại hàng nghìn năm dưới dạng tập quán pháp lý quốc tế.

* Nội dung của nguyên tắc

- Mọi quốc gia đều có nghĩa vụ thực hiện tự nguyện, thiện chí, trung thực và đầy đủ các nghĩa vụ điều ước quốc tế của mình.

  •  Các nghĩa vụ phát sinh từ hiến chương Liên hợp quốc
  • Các nghĩa vụ phát sinh từ các nguyên tắc và quy phạm được thừa nhận rộng rãi của luật quốc tế
  • Nghĩa vụ theo các điều ước quốc tế mà quốc gia là thành viên

- Mọi quốc gia phải tuân thủ tuyệt đối việc thực hiện nghĩa vụ điều ước quốc tế, tuân thủ một cách triệt để không do dự. Các sự kiện khách quan xảy ra như thay đổi chính phủ, thay đổi hình thưc quản lý chế độ xã hội, biểu tình, thiên tai, thay đổi lãnh thổ hay là sự thay đổi hoàn cảnh quốc tế không thể là lý do để quốc gia thực hiện điều ước quốc tế.

- Các quốc gia thành viên quốc tế không được viện dẫn các quy định về pháp luật trong nước làm nguyên nhân từ chối thực hiện nghĩa vụ của mình.

- Các quốc gia không có quyền ký kết điều ước quốc tế mâu thuẫn với nghĩa vụ của mình được quy định được quy định trong điều ước quốc tế hiện hành mà quốc gia đã ký kết hoặc tham gia trước đó với các quốc gia khác.

- Không cho phép các quốc gia đơn phương ngừng thực hiện và xem xét lại điều ước quốc tế. Hành vi này chỉ được thực hiện bằng phương thức đình chỉ và xem xét hợp pháp theo sự thỏa thuận của các thành viên điều ước.

- Việc cắt đứt quan hệ ngoại giao hay quan hệ lãnh sự giữa các nước thành viên của điều ước quốc tế không ảnh hưởng đến các quan hệ pháp lý phát sinh giữa các quốc gia này, trừ trường hợp các quan hệ ngoại giao lãnh sự là cần thiết cho việc thực hiện điều ước

 * Ngoại lệ của nguyên tắc

- Khi điều ước quốc tế có nội dung trái với hiến chương Liên hợp quốc, trái với nguyên tắc và quy phạm được thừa nhận rộng rãi của luật quốc tế.

- Các quốc gia không phải thực hiện điều ước quốc tế nếu trong quá trình ký kết điều ước quốc tế các bên đã vi phạm quy định của pháp luật quốc gia về trình tự, thủ tục và thẩm quyền ký kết.

- Quốc gia có quyền từ chối thực hiện điều ước quốc tế nào đó khi điều kiên thực hiện đã thay đổi căn bản, hoặc mục đích ký kết điều ước đã không còn phù hợp với tình hình chính trị, kinh tế và xã hội của các quốc gia.

- Khi một bên cam kết không thực hiện nghĩa vụ điều ước của mình thì các bên khác có quyền từ chối thực hiện vì nghĩa vụ theo điều ước quốc tế chỉ có thể được thực hiện rên cơ sở có đi có lại.

Luật Minh Khuê (Sưu tầm & biên tập)