1. Quyền có người bào chữa của người bị buộc tội
Ngoài việc người bị buộc tội trực tiếp mời hoặc cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ định, quy định về lựa chọn người bào chữa được thông thoáng hơn so với Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 nhằm tháo gỡ những vướng mắc đối với những trường hợp bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam và tạo điều kiện để người bào chữa tham gia có hiệu quả. Người đại diện hoặc người thân thích của người bị buộc tội cũng có quyền lựa chọn người bào chữa.
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền trong việc tạo điều kiện để người bị buộc tội có người bào chữa. Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi nhận được đơn yêu cầu người bào chữa của người bị bắt, bị tạm giữ thì cơ quan có thẩm quyền đang quản lý người bị bắt, người bị tạm giữ có trách nhiệm chuyển đơn này cho người bào chữa, người đại diện hoặc người thân thích của họ. Trường hợp người bị bắt, người bị tạm giữ không nêu đích danh người bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền đang quản lý người bị bắt, bị tạm giữ phải chuyển đơn này cho người đại diện hoặc người thân thích của họ để những người này nhờ người bào chữa. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận được đơn yêu cầu người bào chữa của người bị tạm giam thì cơ quan có thẩm quyền đang quản lý người bị tạm giam có trách nhiệm chuyển đơn này cho người bào chữa, người đại diện hoặc người thân thích của họ. Trường hợp người bị tạm giam không nêu đích danh người bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền đang quản lý người bị tạm giam phải chuyển đơn này cho người đại diện hoặc người thân thích của họ để những người này nhờ người bào chữa. Trường hợp người đại diện hoặc người thân thích của người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam có đơn yêu cầu nhờ người bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm thông báo ngay cho người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam để có ý kiến về việc nhờ người bào chữa.
Người bị buộc tội, người đại diện hoặc người thân thích của họ đề nghị ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận từ cấp huyện trở lên cử Bào chữa viên nhân dân để bào chữa cho người bị buộc tội là thành viên của tổ chức mình. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải yêu cầu hoặc đề nghị các tổ chức sau đầy cử người bào chữa cho các trường hợp nêu trên: đoàn luật sư phân công tổ chức hành nghề luật sư cử người bào chữa; trung tâm trợ giúp pháp lý cử Trợ giúp viên pháp lý, luật sư để bào chữa cho người thuộc diện được trợ giúp pháp lý; đề nghị ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận cử bào chữa viên để bào chữa cho thành viên của tổ chức mình.
2. Trường hợp bắt buộc mời người bào chữa
Để thể chế hóa chính sách nhân đạo của Đảng, Nhà nước và phù hợp với điều kiện cụ thể nước ta, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định mở rộng trường hợp bắt buộc mời người bào chữa cho bị can, bị cáo về tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là 20 năm tù, chung thân hoặc tử hình thay cho mức cao nhất là tử hình như hiện nay và quy định rõ hơn bào chữa chỉ định trong trường hợp người bị buộc tội có “nhược điểm về thể chất mà không thể tự bào chữa” thay vì chỉ “có nhược điểm về thể chất’ như quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003. Cụ thể là: trong những trường hợp sau đây nếu người bị buộc tội, người đại diện hoặc người thân thích của họ không mời người bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải chỉ định người bào chữa cho họ: i) Bị can, bị cáo về tội mà Bộ luật hình sự quy định mức cao nhất của khung hình phạt là 20 năm tù, tù chung thân, tử hình; ii) Người bị buộc tội có nhược điểm về thể chất mà không thể tự bào chữa; người có nhược điểm về tâm thần hoặc là người chưa thành niên.
Về quy định này, cũng có ý kiến cho rằng, cần mở rộng trường hợp bắt buộc mời người bào chữa cho bị can, bị cáo về tội có khung hình phạt cao nhất đến 15 năm tù. Với phương án này, dự kiến cần tăng gấp 8 lần số lượng người bào chữa bắt buộc. Hoặc cần mở rộng trường hợp bắt buộc mồi người bào chữa cho bị can, bị cáo về tội có khung hình phạt từ 12 năm tù trở lên. Tuy nhiên, những phương án này chưa phù hợp với điều kiện của nước ta hiện nay.
3. Thay đổi hoặc từ chối người bào chữa
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định rõ hơn những người có quyền từ chối hoặc đề nghị thay đổi người bào chữa là: người bị buộc tội, người đại diện của người bị buộc tội, người thân thích của người bị buộc tội. Mọi trường hợp thay đổi hoặc từ chối người bào chữa đều phải có sự đồng ý của người bị buộc tội và được lập biên bản để đưa vào hồ sơ vụ án, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 76 của Bộ luật này.
Thủ tục đề nghị thay đổi hoặc từ chối người bào chữa cũng được quy định rõ ràng trong khoản 2 và khoản 3 Điều 77 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 để khắc phục trường hợp người thân thích của người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam mới thường bị từ chối không rõ lý do. Trường hợp người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam trong giai đoạn điều tra có đề nghị từ chối người bào chữa do người thân thích của họ nhờ thì Điều tra viên phải cùng người bào chữa đó trực tiếp gặp người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam để xác nhận việc từ chối. Trong trường hợp chỉ định người bào chữa quy định tại Điều 76 của Bộ luật này, người bị buộc tội và người đại diện hoặc người thân thích của họ vẫn có quyền yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào chữa. Trường hợp từ chối người bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng lập biên bản ghi nhận việc từ chối người bào chữa của người bị buộc tội và chấm dứt việc chỉ định người bào chữa.
4. Đăng ký quyền bào chữa
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định thủ tục đăng ký bào chữa tại Điều 78 thay cho việc cấp giấy chứng nhận người bào chữa đối với từng diện người bào chữa. Cụ thể khi đăng ký bào chữa, người bào chữa phải xuất trình các giấy tờ sau: Luật sư xuất trình Thẻ luật sư kèm theo bản sao có chứng thực và giấy yêu cầu luật sư của người bị buộc tội hoặc của người đại diện hoặc của người thân thích của người bị buộc tội; người đại diện của người bị buộc tội xuất trình Chứng minh nhân dân hoặc thẻ Căn cước công dân kèm theo bản sao có chứng thực và giấy tờ có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về mới quan hệ của họ với người bị buộc tội; Bào chữa viên nhân dân xuất trình Chứng minh nhân dân hoặc thẻ Căn cước công dân kèm theo bản sao có chứng thực và văn bản cử bào chữa viên nhân dân của ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận; Trợ giúp viên pháp lý xuất trình văn bản cử người thực hiện trợ giúp pháp lý của tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý và Thẻ trợ giúp viên pháp lý hoặc Thẻ luật sư kèm theo bản sao có chứng thực.
Trong trường hợp chỉ định người bào chữa thì người bào chữa xuất trình các giấy tờ sau: Luật sư xuất trình Thẻ luật sư kèm theo bản sao có chứng thực và văn bản cử luật sư của tổ chức hành nghề luật sư nơi luật sư đó hành nghề hoặc văn bản phân công của Đoàn luật sư đối với luật sư hành nghề với tư cách cá nhân; Bào chữa viên nhân dân xuất trình Chứng minh nhân dân hoặc thẻ Căn cước công dân kèm theo bản sao có chứng thực và văn bản cử bào chữa viên nhân dân của ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận; Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý Thẻ trợ giúp viên pháp lý hoặc Thẻ luật sư kèm theo bản sao có chứng thực và văn bản cử người thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.
Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận đủ giấy tờ quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều 78, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kiểm tra giấy tờ và thấy không thuộc trường hợp từ chối việc đăng ký bào chữa quy định tại khoản 5 Điều 78 thì vào sổ đăng ký người bào chữa, gửi ngay văn bản thông báo người bào chữa cho người đăng ký bào chữa, cơ sở giam giữ và lưu các giấy tờ liên quan đến việc đăng ký bào chữa trong hồ sơ vụ án; nếu xét thấy không đủ điều kiện thì từ chối việc đăng ký bào chữa và phải nêu rõ lý do bằng văn bản.
Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng từ chối việc đăng ký bào chữa khi thuộc trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 72 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và khi người bị buộc tội thuộc trường hợp chỉ định người bào chữa từ chối người bào chữa.
Văn bản thông báo người bào chữa có giá trị sử dụng trong suốt quá trình tố tụng, trừ các trường hợp sau: người bị buộc tội từ chối hoặc đề nghị thay đổi người bào chữa; người đại diện hoặc người thân thích của người bị buộc tội quy định tại điểm b khoản 1 Điều 76 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 từ chối hoặc đề nghị thay đổi người bào chữa.
Cũng có một số ý kiến cho rằng, việc cấp “Giấy chứng nhận người bào chữa” không có vướng mắc gì, đề nghị tiếp tục giữ quy định hiện hành về “cấp giấy chứng nhận người bào chữa” và chấn chỉnh, khắc phục thiếu sót, tồn tại trong tổ chức thực hiện. Ngược lại, nhiều ý kiến lại cho rằng, quy định cấp giấy chứng nhận bào chữa vô hình chung đã trao cho cơ quan tố tụng thẩm quyền cho phép hoặc không cho phép người bào chữa tham gia tố tụng. Do vậy, quy định này nên thay bằng quy định luật sư đăng ký bào chữa khi đã xuất trình đầy đủ giấy tờ luật định. Thực tiễn cho thấy, việc cấp giấy chứng nhận người bào chữa còn chưa kịp thời, có phần do tổ chức thực hiện, có phần do quy định hiện hành về thủ tục cấp còn rườm rà, dẫn đến có nhận thức cho rằng việc bào chữa gặp khó khăn, chậm trễ là do phải có “cấp phép bào chữa của cơ quan tiến hành tố tụng. Vì vậy, để việc bào chữa được kịp thời, tránh sự hiểu lầm không cần thiết, thay thủ tục “cấp giấy chứng nhận bào chữa” thành “thủ tục đăng ký bào chữa”; đồng thời, đơn giản thủ tục, rút ngắn thời hạn cấp xác nhận tư cách tham gia tố tụng của người bào chữa là cần thiết.
5. Trách nhiệm thông báo cho người bào chữa
Về trách nhiệm thông báo cho người bào chữa, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải báo trước một thời gian hợp lý cho người bào chữa về thời gian, địa điểm tiến hành các hoạt động tố tụng mà họ có quyền tham gia theo quy định của Bộ luật này. Trường hợp người bào chữa đã được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng báo trước mà không có mặt thì hoạt động tố tụng vẫn được tiến hành, trừ trường hợp quy định tại Điều 291 của Bộ luật TTHS 2015.
Cụ thể là các trương hợp:
- Người bào chữa phải có mặt tại phiên tòa để bào chữa cho người mà mình đã nhận bào chữa. Người bào chữa có thể gửi trước bản bào chữa cho Tòa án. Trường hợp người bào chữa vắng mặt lần thứ nhất vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan thì Tòa án phải hoãn phiên tòa, trừ trường hợp bị cáo đồng ý xét xử vắng mặt người bào chữa. Nếu người bào chữa vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan hoặc được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì Tòa án vẫn mở phiên tòa xét xử.
- Trường hợp chỉ định người bào chữa quy định tại khoản 1 Điều 76 của Bộ luật TTHS 2015 mà người bào chữa vắng mặt thì Hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa, trừ trường hợp bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo đồng ý xét xử vắng mặt người bào chữa.
LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)