Thực trạng thi hành các quy định về bảo đảm quyền bào chữa thời điểm trước khi thông qua và ban hành Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 thực tế còn khá nhiều bất cập, vướng mắc và khó khán. Thực trạng này hạn chế không chỉ đến việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo, quyền hành nghề của Luật sư, mà còn ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan của vụ án, khả năng tiếp cận công lý, tôn trọng và bảo vệ quyền con ngưòĩ trong hoạt động tư pháp. Đó không chỉ là sự khiếm khuyết trong kỹ thuật lập quy về cấu trúc và sự không rõ ràng trong điều luật mà còn làm cho tiến trình Luật sư tham gia tố tụng trong các vụ án hình sự bị thu hẹp lại, việc sử dụng và bảo đảm quyền bào chữa bị hạn chế, nguy cơ rủi ro trong hành nghề tăng thêm.

Địa vị pháp lý của người bào chữa trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 chưa được coi trọng, mang nặng tính hình thức, quyền tiếp cận của người bị tình nghi phạm tội với dịch vụ pháp lý chưa thật sự được bảo đảm, Luật sư chưa thật sự giúp ích hiệu quả cho họ trong giai đoạn điều tra cũng như cho người bị xét xử có bản án có hiệu lực pháp luật, thi hành án.

Liên quan đến địa vị pháp lý là người tham gia tố tụng, có các quyền và nghĩa vụ được quy định tại Điều 58 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 như phân tích ở trên cho thấy, tư cách tham gia tố tụng của người bào chữa chưa thực sự bình đẳng với người tiến hành tố tụng, là quyền năng phái sinh của người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo, dường như hoàn toàn phụ thuộc vào sự chấp thuận hay không của cơ quan tiến hành tô’ tụng. Người bào chữa chưa được bình đẳng trong việc thu thập, đánh giá chứng cứ nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho người bị tình nghi phạm tội. Khái niệm “thu thập và giao” tài liệu, đồ vật không phản ánh được quyền hạn, trách nhiệm của người bào chữa. Bên cạnh đó, diện chủ thể người bào chữa quá rộng, Bào chữa viên nhân dân chưa quy định tiêu chuẩn, điều kiện đáp ứng yêu cầu của việc tham gia bào chữa, khiến cho hiệu quả tham gia tố tụng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo còn hạn chế.

Cụ thể về những vướng mắc, khó khăn trong các giai đoạn tố tụng hình sự như sau:

1.Hoạt động tham gia tố tụng của Luật sư trong giai đoạn điều tra

Theo quy định tại khoản 2 Điều 58 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, người bào chữa có quyền có mặt khi lấy lời khai người bị tạm giữ và khi hỏi cung bị can, được phép đặt câu hỏi với bị can nếu được sự đồng ý của Điêu tra viên; có quyền đề nghị Cơ quan điều tra báo trưốc vê thời gian, địa điểm hỏi cung bị can để có mặt khi hỏi cung bị can... Tuy nhiên, việc tham gia tố tụng của Luật sư trong giai đoạn điều tra gặp rất nhiều vướng mắc, khó khăn và còn mang tính hình thức.

Theo kết quả khảo sát của nhóm chuyên gia do Liên đoàn Luật sư Việt Nam phôi hợp với Chương trình đối tác tư pháp JPP bằng Bảng hỏi, chỉ 6,3% các Luật sư tham gia khảo sát cho rằng trong 1 năm qua người bị tạm giữ (chưa có quyết định khởi tố bị can) được các cơ quan tiến hành tô" tụng tạo điều kiện thuận lợi để nhờ ngưòi bào chữa. Phần lốn các Luật sư (48,2%) vẫn cho rằng, các cơ quan tiến hành tố"tụng chưa thật sự tạo điều kiện cho người bị tạm giữ, bị can trong việc nhờ người bào chữa. Đặc biệt, có 12,1% Luật sư cho rằng, các cơ quan tiến hành tô' tụng ngăn cản người bị tạm giữ/bị can trong việc nhờ người bào chữa. Một số Luật sư cho rằng, khách hàng của họ phần lớn là thân nhân của những người bị tạm giữ mà không phải là người bị tạm giữ hay bị can vì những người này đang bị cách ly. Tuy nhiên, việc Luật sư do thân nhân mời tham gia trong giai đoạn này lại gặp khó khăn từ phía một số cá nhân cán bộ điều tra. Một số Luật sư cho rằng, họ thậm chí chưa tham gia vào hoạt động bào chữa cho người bị tạm giữ nào vì chưa được tạo điều kiện trên thực tế. Khác vối giai đoạn điều tra trước khi có quyết định khỏi tô', giai đoạn điều tra sau khi có quyết định khởi tô' được nhiều Luật sư cho rằng bị can đã được các cơ quan tiến hành tô' tụng tạo điều kiện vừa phải trong việc tiếp cận quyền bào chữa. Tỷ lệ Luật sư cho rằng người bị tạm giữ/ bị can chưa được tạo điều kiện tiếp cận quyền bào chữa đã giảm từ 48,2% xuống còn 25% so vối giai đoạn trước khi có quyết định khởi tô'.

Việc tiếp cận quyền bào chữa một cách hiệu quả đòi hỏi phải có sự hợp tác và hỗ trợ từ phía các cơ quan tiến hành tô' tụng dưới nhiều hình thức như giải thích rõ cho người bị tạm giữ, bị can về quyền tự bào chữa hoặc nhờ người bào chữa, hưống dẫn viết đề nghị nhờ người bào chữa, yêu cầu Đoàn luật sư chỉ định Luật sư bào chữa, thực trạng khó khăn trong quá trình xin cấp Giấy chứng nhận người bào chữa...

2. Hoạt động giải thích, thông báo về quyền bào chữa

Kết quả khảo sát cho thấy, người bị tạm giữ, bị can vẫn chưa thực sự nhận được sự hỗ trợ hữu ích từ phía các cơ quan tiến hành tố tụng. Cụ thể, có 45,9% Luật sư cho rằng, Cơ quan điều tra chỉ thỉnh thoảng giải thích rõ cho người bị tạm giữ/bị can về quyền tự bào chữa hoặc nhờ người bào chữa theo quy định pháp luật, về việc hưống dẫn người bị tạm giữ/bị can viết đề nghị bằng văn bản nhờ người bào chữa, khoảng 1/3 Luật sư tham gia khảo sát cho rằng Cơ quan điều tra hiêhì khi thực hiện hoạt động này. Hơn 50% số Luật sư tham gia khảo sát cho biết Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát rất hiếm khi cung cấp danh sách và thông tin về Luật sư để người bị tạm giữ/bị can liên lạc.

>> Xem thêm:  Luật sư Tư vấn Pháp luật Miễn phí qua Điện thoại

Quá trình khảo sát cho thấy, ngay từ khi giao quyết định tạm giữ cho người bị tạm giữ, quyết định khởi tố bị can cho bị can, Điều tra viên phải đọc và giải thích cho họ biết rõ về quyền, nghĩa vụ của người bị tạm giữ, bị can theo quy định tại Điều 48, Điều 49 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 và lập biên bản giao nhận quyết định. Trong biên bản phải ghi rõ ý kiến của ngưòi bị tạm giữ, bị can về việc có nhờ người bào chữa hay không. Nếu người bị tạm giữ, bị can đang bị tạm giam cần nhờ người bào chữa thì cần phải ghi ý kiến của người bị tạm giữ, bị can vào biên bản và hướng dẫn họ viết đề nghị bằng văn bản (khoản 1 Điều 4 Thông tư số' 70/2011/TT-BCA ngày 10-10-2011). Thông qua các cuộc tọa đàm, một số Luật sư cho biết họ chưa thấy các biên bản ghi ý kiến này khi tham gia bào chữa (chỉ có 01 Luật sư tại Thành phố Hồ Chí Minh cho biết có chứng kiến việc lập biên bản loại này). Các Luật sư cho rằng, việc không ghi ý kiến như vậy là có dấu hiệu vi phạm tố tụng. Thậm chí, có trường hợp Luật sư đã được mời tới để Điều tra viên lập biên bản về việc yêu cầu Luật sư và Luật sư được yêu cầu phải ký vào biên bản đó, trong khi bị can là người chưa thành niên mà Luật sư là Luật sư chỉ định theo quy định tại Bộ luật tô' tụng hình sự.

Đáng chú ý, Bộ luật tô' tụng hình sự năm 2003 chưa quy định cách thức thông báo, giải thích quyền tự bào chữa và nhờ người khác bào chữa, cung cấp danh sách người bào chữa trên địa hạt tô' tụng để cho người bị bắt, bị tạm giữ, bị can lựa chọn và thực hiện quyền của mình. Đoàn luật sư các địa phương cũng chưa có cơ chê' phối hợp để triển khai việc cung cấp danh sách Luật sư cho Cơ quan điều tra, Nhà tạm giữ, Trại tạm giam. Ngay cả khi Thông tư sô' 70/2011/TT-BCA đã ban hành, qua khảo sát thực trạng ! thi hành, việc thân nhân người bị tạm giữ, bị can làm thủ tục nhờ Luật sư gặp nhiều khó khăn, chưa có cơ chê' kiểm soát việc giải thích và bảo đảm quyền nhờ Luật sư từ phía Cơ quan điều tra, nên nhiều trường hợp, Luật sư do thân nhân gia đình nhờ đã bị từ chối vối nhiều lý do không rõ ràng.

3. Thực trạng thủ tục cấp Giấy chứng nhận bào chữa

Kết quả khảo sát cho thấy, các Luật sư thường xuyên phải xuất trình các giấy tờ bao gồm Thẻ Luật sư (95,1%); giấy giới thiệu của tổ chức hành nghề luật sư hoặc giấy giới thiệu của Đoàn luật sư (89,3%); giấy yêu cầu Luật sư của người bị tạm giữ/bị can, giấy yêu cầu Luật sư của người thân người bị tạm giữ/bị can, hoặc giấy yêu cầu Luật sư của người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ/bị can (89,7%). Trong mệt số trường hợp, Luật sư còn phải cung cấp thêm các giấy tờ như chứng chỉ hành nghề luật sư, hợp đồng dịch vụ pháp lý và chứng từ thanh toán phí dịch vụ theo hợp đồng dịch vụ pháp lý. Cá biệt, một vài Luật sư còn được yêu cầu phải cung cấp đơn xin cấp Giấy chứng nhận người bào chữa, giấy đăng ký hoạt động, Chứng minh thư nhân dân...

Liên quan đến vấn đề Luật sư phải xuất trình bản sao có chứng thực Thẻ luật sư, ý kiến của nhiều Luật sư tại các cuộc tọa đàm và hội thảo “Tổng kết đánh giá 01 năm thi hành Thông tư số 70/2011/TT-BCA và Quy chế phốĩ hợp” trong tháng 6 và tháng 7-2013 nhất trí cho rằng, việc quy định bản sao chứng thực là không cần thiết, không phù hợp vối quy định về cải cách thủ tục hành chính (chỉ yêu cầu xuất trình bản chính với bản sao), mất thời gian, gây tốn kém tiền bạc. Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng, việc yêu cầu nộp bản sao là hợp lý bởi trong trường hợp Luật sư nộp hồ sơ yêu cầu cấp Giấy chứng nhận người bào chữa qua đường bưu điện, cần thiết phải dùng bản sao có chứng thực vì không có bản chính để đối chiếu.

Các Luật sư cũng phản ánh có sự khác biệt giữa quy định của Thông tư số' 70/2011/TT-BCA và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Luật sư năm 2012 về vấn đề các giấy tờ cần xuất trình để được cấp Giấy chứng nhận người bào chữã. Tại khoản 3 Điều 27 Luật Luật sư năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2012) có quy định các giấy tờ cung cấp để cấp Giấy chứng nhận người bào chữa bao gồm: Thẻ Luật sư và Giấy yêu cầu Luật sư của ngươi bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc của người khác; hoặc văn bản cử Luật sư của tổ chức hành nghề luật sư nơi Luật sư đó hành nghề; hoặc văn bản phân công của Đoàn luật sư đôi vổi Luật sư hành nghề vối tư cách cá nhân trong trường hợp tham gia tô' tụng trong vụ án hình sự theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tô' tụng hoặc trong trường hợp thực hiện trợ giúp pháp lý. Danh mục giấy tờ cần xuất trình này có điểm khác biệt so với Thông tư sô' 70/2011/TT-BCA dẫn tới khó khăn cho Luật sư trong quá trình xin cấp Giấy chứng nhận người bào chữa.

Về vấn đề tiếp nhận hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận người bào chữa, Thông tư sô' 70/2011/TT-B CA quy định có thể nộp trực tiếp hoặc nộp qua đường bưu điện, nhưng thực tế khảo sát cho thấy trên 3/4 sô' Luật sư tham gia khảo sát thường xuyên nộp trực tiếp hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận bào chữa tại các cơ quan tiến hành tô' tụng. Trong khi đó, có chưa tối 30% sô'Luật sư thường xuyên nộp qua đường bưu điện. Ngoài ra, Luật sư đôi khi nhờ người khác đến nộp hồ sơ. Một vài trường hợp, bị can hoặc người nhà bị can nộp trực tiếp hoặc thông qua tổ chức hành nghề luật sư.

Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 5 Thông tư sô 70/2011/TT-BCA, trường hợp người đề nghị cấp Giấy chứng nhận người bào chữa hoặc người thuộc tổ chức hành nghề luật sư nơi Luật sư đề nghị cấp giấy Giấy chứng nhận người bào chữa trực tiếp đến Cơ quan điều tra đề nghị cấp Giấy chứng nhận người bào chữa và nộp các giấy tờ liên quan thì Điều tra viên, cán bộ được phân công tiếp nhận và kiểm tra, nếu thấy thiếu hoặc thủ tục chưa đúng thì hướng dẫn ngay cho họ sửa đổi, bổ sung. Nếu đủ các giấy tờ quy định thì viết giấy biên nhận về việc đã nhận đủ hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận người bào chữa, trong đó hẹn rõ thời gian đến nhận Giấy chứng nhận người bào chữa hoặc văn bản từ chối. Tuy nhiên, khảo sát cho thấy, chỉ có khoảng 20% Luật sư thường xuyên hoặc thỉnh thoảng được cấp giấy biên nhận. Khoảng 80% Luật sư cho biết họ hiếm khi hoặc không bao giờ được cấp giấy biên nhận khi nộp hồ sơ cấp Giấy chứng nhận người bào chữa trực tiếp tại Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát.

Cũng liên quan đến vấn đề tiếp nhận hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận người bào chữa, có ý kiến của Luật sư cho rằng, Thông tư số 70/2011/TT-BCA không quy định rõ ai là người tiếp nhận hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận người bào chữa dẫn đến trường hợp người này đùn đẩy trách nhiệm cho người kia. Luật sư được chỉ dẫn gặp Điều tra viên nhưng lại không biết ai là Điều tra viên. Cho nên, một số Luật sư cho rằng, nếu không liên hệ trực tiếp vối Cơ quan điều tra thì không thể nào biết được thông tin chính xác ai là ngưòi phụ trách vụ án.

Tại các buổi tọa đàm, các Luật sư cũng để nghị Giấy chứng nhận người bào chữa nên có giá trị xuyên suốt quá trình tô' tụng, từ điều tra, truy tố đến xét xử. Tại một số địa phương, Giấy chứng nhận người bào chữa được cấp trong giai đoạn điều tra lại không được chấp nhận trong các giai đoạn sau, dẫn đến Luật sư phải làm lại thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận người bào chữa. Nhiều Luật sư phản ánh phải xin cấp đến 03 Giấy chứng nhận người bào chữa cho 03 giai đoạn tố tụng. Thủ tục cấp Giấy chứng nhận người bào chữa hiện nay còn rườm rà, nhiều điều kiện cho nên đã làm hạn chế việc Luật sư tham gia các hoạt động tố tụng.

>> Xem thêm:  Luật sư tư vấn pháp luật thuế trực tuyến qua tổng đài điện thoại

4. Hoạt động gặp và tiếp xúc riêng tư với người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 không có quy định cho phép người bào chữa được tiếp xúc riêng tư vối người bị tạm giữ, bị can trong Trại tạm giam trong giai đoạn điều tra, nên hoàn toàn tùy thuộc vào lịch làm việc hoặc sự chấp thuận hay không của Điều tra viên. Quy định về quyền gặp mặt người bị tạm giữ, bị can của người bào chữa trong Thông tư số 70/2011/TT-BCA chưa thật rõ ràng, gặp nhiều khó khăn trong thực tế.

Về vấn đề thông báo tới Luật sư tham gia lấy lời khai/ hỏi cung kể từ khi Thông tư số 70/2011/TT-BCA và Quy chế phối hợp giữa Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Liên đoàn Luật sư Việt Nam (sau đây gọi là Quy chế phổi hợp) được ban hành, 59,2% Luật sư cho biết họ được thông báo trước 24 giờ; 17,5% Luật sư được thông báo trưổc 48 giờ để tham gia hỏi cung, lấy lời khai của bị can, người bị tạm giữ. Tuy nhiên, cũng có không ít Luật sư cho biết, họ chỉ được thông báo khi kết thúc điều tra, hoặc Cơ quan điều tra có thông báo nhưng lại không hẹn giờ chính xác, thậm chí, có Luật sư không hề được thông báo về việc tham gia hỏi cung, lấy lời khai. Tại các cuộc tọa đàm, có Luật sư chia sẻ rằng, Luật sư chưa bao giờ nhận được thông báo, thậm chí đôi khi, không thể liên hệ được vổi Cơ quan điều tra để cập nhật lịch xét hỏi, hoặc Điều tra viên có gửi văn bản thông báo nhưng lại không ghi rõ về ngày giờ và địa điểm gây khó khăn cho Luật sư. Đặc biệt, có trường hợp Điều tra viên tiến hành lấy lời khai, hỏi cung và ngay lúc đó, báo Luật sư tới tham dự trong khi địa điểm hỏi cung cách nơi làm việc của Luật sư hàng chục cây số.

Về vấn đề gặp gỡ người bị tạm giữ/bị can đang bị tạm giam trong giai đoạn điều tra, có 44,5% Luật sư được khảo sát cho rằng, cho dù Thông tư số 70/2011/TT-BCA và Quy chế phốỉ hợp được ban hành, họ vẫn thường xuyên chưa thật sự thấy thuận lợi trong việc được gặp gỡ người bị tạm giữ/ bị can; 53,2% Luật sư cho rằng, họ thường xuyên gặp khó khăn trong việc gặp gỡ thân chủ của mình. Lưu ý, có hơn 1/3 số Luật sư cho biết, họ hoàn toàn không được gặp thân chủ trong giai đoạn điều tra.

Tuy nhiên, trong giai đoạn truy tố lại có sự khác biệt khi có khá nhiều Luật sư cho rằng, họ được tạo điều kiện thuận lợi tiếp xúc với người bị tạm giữ, bị can đang bị tạm giam. Cụ thể, có tới 42,6% Luật sư cho biết, họ thường xuyên được tạo điều kiện thuận lợi trong việc gặp gỡ thân chủ của mình. Tỷ lệ Luật sư cho rằng, mình thường xuyên gặp khó khăn trong giai đoạn này đã giảm tối gần một nửa so với giai đoạn điều tra.

Nhiều ý kiến đánh giá Thông tư sô' 70/2011/TT-BCA và Quy chế phôi hợp chưa thật sự có tác động nhiều tới việc hỗ trợ Luật sư được gặp ngưòi bị tạm giữ/bị can đang bị tạm giam. Kết quả khảo sát cho thấy, đa số’ các Luật sư cho biết, họ chưa được chủ động trong việc tiếp xúc và trao đổi với khách hàng. Phần lớn Luật sư vẫn thường xuyên chỉ được trao đổi với khách hàng khi Điều tra viên cho phép trong cả giai đoạn điều tra và giai đoạn truy tô'. Trong giai đoạn điều tra, 37,1% Luật sư cho rằng, họ hiếm khi được chủ động trao đổi với khách hàng mà không bị hạn chế. ở giai đoạn truy tô' Luật sư được gặp gỡ khách hàng dễ dàng hơn so vổĩ giai đoạn điều tra với 35% Luật sư trả lời họ thường xuyên được chủ động trao đổi với khách hàng mà không bị hạn chế.

Ngoài ra, Thông tư sô' 70/2011/TT-BCA yêu cầu người bào chữa phải nghiêm chỉnh chấp hành các quy chê' của Nhà tạm giữ, Trại tạm giam nhưng lại chưa có sự thông nhất quy định chung trên toàn quô'c dẫn đến khó khăn cho người bào chữa thực hiện việc gặp ngưòi bị tạm giữ, bị can. Đặc biệt, có trường hợp Trưởng trại tạm giam yêu cầu Luật sư phải có giấy xác nhận của Kiểm sát viên/Thẩm phán (đơn xin gặp mặt bị can) mới cho gặp bị can, Một Luật sư trong buổi tọa đàm tại Cà Mau cho rằng, quy định tại Điều 10 Thông tư số 70/2011/TT-BCA đã dường như làm hạn chế quyền của Luật sư hơn so với Bộ luật tổ’ tụng hình sự năm 2003. Việc giám sát của cơ quan quản lý trại giam, Điều tra viên đã hạn chế khả năng hành nghề của Luật sư và đã không cho phép Luật sư được trao đổi riêng tư vối khách hàng. Luật sư đề nghị việc giám sát Luật sư khi Luật sư tiếp xúc với người bị tạm giữ/bị can trong trại giam chỉ nên là giám sát tầm nhìn mà không nên giám sát tầm nghe để tạo điều kiện cho bị can được chủ động, thoải mái trao đổi vối Luật sư. Ý kiến này xuất phát từ quan điểm, người bị tạm giữ, bị can đang bị tạm giam chỉ mất tự do và họ chưa phải là tội phạm, do vậy, những quyền công dân khác của họ cần được bảo đảm, bao gồm quyền được gặp riêng Luật sư để tư vấn, trao đổi thông tin.

Thực tế giữa Luật sư và người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo không được quyền trao đổi thông tin, tài liệu, thư từ có tính chất bảo mật; những người bị tình nghi phạm tội không được phép tiếp cận vối hồ sơ vụ án, tài liệu chứng cứ chống lại mình. Việc quy định Luật sư chỉ được phép hỏi khi Điều tra viên đồng ý đã vô hình trung hạn chế quyền của người bào chữa và khiến vị thế của Luật sư trong quá trình tham gia tố tụng rất bị động, hạn chế việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ.

Một thực tế khác là, thời gian tiếp xúc của Luật sư với người bị tạm giữ, bị can bị hạn chế trong vòng 01 giờ đồng hồ do vưống quy định tại Nghị định số 89/1998/NĐ-CP ngày 07-11-1998 của Chính phủ ban hành Quy chế về tạm giữ, tạm giam (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 98/2002/ NĐ-CP ngày 27-11-2002). Ngoài ra, trừ trường hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 57 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 (Luật sư bắt buộc phải tham gia theo yêu cầu chỉ định của cơ quan tiến hành tố tụng), hiện nay, chưa có quy định thống nhất về giá trị pháp lý sự hiện diện và chữ ký của Luật sư trên các biên bản hỏi cung người bị tạm giữ, bị can là bắt buộc, cũng như người bị tạm giữ, bị can không được quyền từ chốĩ lấy lời khai hay hỏi cung khi không có mặt người bào chữa. Điều này xuất phát từ Văn bản số 752/C16 (P6) ngày 18-7-2007 của Cơ quan cảnh sát điều tra Bộ Công an có hướng dẫn: “Việc có mặt của người bào chữa trong một số hoạt động điều tra, truy tố và xét xử được thực hiện theo Điều 58 Bộ luật tố tụng hình sự, không buộc họ phải có mặt trong tất cả các buổi hỏi cung. Chỉ những hoạt động điều tra nào có mặt của người bào chữa thì mới phải ghi rõ vào biên bản có chữ ký xác nhận của người bào chữa. Các biên bản hỏi cung, biên bản các hoạt động điều tra khác mà người bào chữa không tham gia vẫn có nguyên giá trị pháp luật. Do đó, không được coi người bào chữa không có mặt trong tất cả các buổi hỏi cung là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng để trả hồ sơ điều tra bổ sung”.

5. Quyền thu thập, đánh giá chứng cứ của Luật sư

>> Xem thêm:  Tư vấn pháp luật lao động trực tuyến qua tổng đài điện thoại

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 chưa quy định cụ thể quyền thu thập, đánh giá chứng cứ của Luật sư cũng như cơ chê bảo đảm cho việc các cơ quan có liên quan hỗ trợ, cung cấp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Luật sư, cơ chế và hình thức xử lý nếu có vi phạm quyền bào chữa của người bị tình nghi phạm tội. Một số hoạt động tố tụng thiếu vắng sự tham gia, chứng kiến của Luật sư như khám nghiệm hiện trường, thực nghiệm điều tra, thu giữ vật chứng, bán đấu giá tài sản...

Kết quả khảo sát cho thấy, nhiều Luật sư nhận định quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 và tại Điều 9 Thông tư số 70/2011/TT-BCA về việc người bào chữa thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa là quy định rất cần thiết nhưng cần rõ ràng hơn về cơ chế thực hiện. Ví dụ như: “tạo điều kiện” là như thế nào? Ngoài ra, khi Luật sư tìm được bằng chứng thì có phải giao cho Công an không hay được sử dụng?. Ngoài ra, Thông tư số 70/2011/TT-BCA đưa ra khái niệm “bí mật công tác” cũng là một khái niệm chưa có diễn giải nội hàm cụ thể, dẫn đến có thể truy cứu trách nhiệm của Luật sư nếu Cơ quan điều tra cho là vi phạm.

Liên quan đến các hoạt động hỗ trợ tố tụng khác, theo Báo cáo về quyền bào chữa trong pháp luật hình sự và thực tiễn tại Việt Nam năm 2010, tỷ lệ Cơ quan điều tra cho các Luật sư được tham gia “hỏi cung” cao hơn so vổi các hoạt động điều tra khác như đối chất, thực nghiệm điều tra, khám xét, kê biên tài sản, giám định... Ngoài ra, Luật sư cũng được tham gia vào hoạt động “thực nghiệm điều tra” nhưng ở mức độ thấp. Luật sư chỉ được tham gia “thực nghiệm điều tra” trong trưòng hợp vụ án mà họ nhận bào chữa là vụ án có tính chất nghiêm trọng (thường là án buộc phải chỉ định Luật sư theo Điều 57 Bộ luật tố” tụng hình sự năm 2003).

6. Giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự

Thực tế cho thấy, nhiều kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của Luật sư trong quá trình tham gia tố tụng ở giai đoạn điều tra còn chưa được giải quyết theo đúng quy định của pháp luật. Đa phần các quyết định tố tụng, trả hồ sơ điều tra bổ sung... ít khi được gửi đến hoặc thông báo cho Luật sư. Các quy định về trả hồ sơ điều tra bổ sung liên quan đến Thông tư liên tịch số 01/2010/TTLT-BCA-VKSTC-TATC ngày 27-8-2010 của liên ngành Bộ Công an, Tòa án nhân dân tôì cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao chưa thực sự thể hiện quyền của Luật sư trong việc kiến nghị, yêu cầu giải quyết những vi phạm nghiêm trọng vê' thủ tục tố tụng và đánh giá, áp dụng sai lầm về pháp luật, về nội dung xác định các yếu tố cấu thành tội phạm.

Về việc thông báo và giải thích rõ lý do trong trường hợp không cấp Giấy chứng nhận người bào chữa của cơ quan tiến hành tô' tụng, có đến 38,1% Luật sư cho rằng Cơ quan điều tra chỉ thông báo và giải thích lý do sau khi được Luật sư yêu cầu và 21,2% Luật sư cho biết mình đã không được thông báo. Đô'i với Viện kiểm sát, tỷ lệ Luật sư nhận định Viện kiểm sát đã chủ động thông báo kèm giải thích rõ lý do cao hơn so với Cơ quan điều tra, chiếm 26,2%. Có nhiều cách thức mà các Luật sư lựa chọn giải quyết khi có vướng mắc với các cơ quan tiến hành tô' tụng: Làm đơn khiếu nại trực tiếp tới cơ quan gây khó khăn là phương án được nhiều Luật sư lựa chọn nhất vối 53% sô'Luật sư được khảo sát lựa chọn. Hai phương án làm đơn khiếu nại tới cấp trên trực tiếp của cơ quan gây khó khăngửi kiến nghị tói Đoàn luật sư địa phương nhờ can thiệp cùng chiếm 23,7%.

Đồng thời, có khá nhiều cách giải quyết khác được các Luật sư đề cập như: chỉ kiến nghị bằng lời nói với Thủ trưởng Cơ quan điều tra, gặp trao đổi trực tiếp với Điều tra viên, người được phân công giải quyết chủ yếu bằng thái độ thuyết phục và trên cơ sở giải thích pháp luật. Mặt khác, có Luật sư nhận định là tùy từng trường hợp mà khiếu nại hay không bởi vì, việc khiếu nại có thể ảnh hưỏng đến quyền lợi của khách hàng nên Luật sư đã không thực hiện. Ngoài ra, cũng có khá nhiều Luật sư cho rằng, họ không làm gì cả vì có thể gây ảnh hưỏng tới lợi ích của khách hàng, tỷ lệ này là 24%.

Qua các tọa đàm, nhiều Luật sư có ý kiến về các hạn chế và bất cập trong cơ chế trao đổi thông tin và trách nhiệm giải trình. Có Luật sư kiến nghị rằng, nếu sửa Thông tư số 70/2011/TT-BCA thì cần bổ sung thêm nghĩa vụ của Điều tra viên, Cơ quan điều tra về việc trả lời các kiến nghị của Luật sư, nếu không trả lời thì phải có lý do và có thời hạn bắt buộc để trả lời. Đặc biệt, cần có quy định pháp luật về chế tài hoặc thay đổi Điều tra viên nếu Điều tra viên không thực hiện đúng yêu cầu này.

Trong buổi tọa đàm diễn ra ở Thành phố Hồ Chí Minh, có Luật sư cho rằng, Thông tư số 70/2011/TT-BCA không có quy định về quyền khiếu nại của người bào chữa trong khi Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 có quy định tại khoản 2 Điều 58. Quyền khiếu nại của người bào chữa phải nên áp dụng như trong các thủ tục hành chính. Các Luật sư khác cũng nhận định rằng, cần phải có cơ chế xem xét và giải quyết khiếu nại của Luật sư, bổ sung thêm cơ chế xử lý các mối quan hệ giữa Luật sư vối các cơ quan này.

Về việc giải quyết khiếu nại của cơ quan tiến hành tố tụng, hai tiêu chí tối hơnkhông có gì thay đổi, giốhg như trước khỉ có hai văn bản này chênh lệch nhau không nhiều. 42% Luật sư cho rằng Cơ quan điều tra giải quyết khiếu nại tô't hơn kể từ khi có Thông tư số 70/2011/TT-BCA và Quy chế phôi hợp; và 51,3% Luật sư cho rằng, việc Cơ quan điều tra giải quyết khiếu nại không có gì thay đổi, giông như trước khi có hai vẫn bản trên. Vổi Viện kiểm sát, hai tỷ lệ này lần lượt là 50,3% và 46,3%.

>> Xem thêm:  Luật sư tư vấn pháp luật doanh nghiệp trực tuyến qua điện thoại

Tại cuộc tọa đàm Hà Nội, các Luật sư đề xuất Viện kiểm sát phải là cơ quan có trách nhiệm giải quyết các khiếu nại của Luật sư phát sinh với Cơ quan điều tra, vì là Viện kiểm sát có chức năng kiểm sát các hoạt động tổ’ tụng nên phải thực hiện vai trò này. Việc để Thủ trưởng Cơ quan điều tra giải quyết khiếu nại là chưa phù hợp vì nhiều khi khiếu nại là khiếu nại Cơ quan điều tra mắ người đứng đầu là Thủ trưỏng nên các khiếu nại sẽ khó được giải quyết.

Hiện nay ở một số địa phương, đã ký Quy chế phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân (như Đoàn luật sư tỉnh Đắk Lắk). Qua buổi tọa đàm tại Cà Mau, Công an tỉnh và Đoàn luật sư tỉnh Cà Mau cũng đã có ý kiến trao đổi vê việc xây dựng một quy chế phôi hợp. Đặc biệt, Đoàn luật sư thành phô’ Cần Thơ ký cả 4 Quy chế phối hợp vối sở Tư pháp, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân thành phô’ cần Thơ. Việc xây dựng các quy chế phối hợp giữa Đoàn luật sư địa phương với các cơ quan tô’ tụng ở địa phương nhằm mục đích trao đổi thông tin, giải quyết khiếu nại đã và sẽ giúp cho hoạt động hành nghề của Luật sư được bảo đảm.

7. Hoạt động tham gia tố tụng của người bào chữa trong giai đoạn quyết định truy tố và xét xử

Giai đoạn quyết định truy tô’ hiện chưa có nhiều quy định cụ thể về sự tham gia của người bào chữa. Thực tiễn tô’ tụng cho thấy, phần lớn các Viện kiểm sát nhân dân các cấp đã tạo điều kiện thuận lợi cho ngưòi bào chữa tham gia tố tụng, kể cả việc cấp Giấy chứng nhận người bào chữa qua bưu điện, cho phép tham khảo, sao chụp hồ sơ vụ án theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 58 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003. Tuy nhiên, trong giai đoạn này, một số’ hoạt động của Kiểm sát viên như tiến hành phúc cung, thực nghiệm điều tra, trưng cầu giám định tư pháp... không có sự tham gia của người bào chữa. Cụ thể, khoản 1 Điều 156 Bộ luật tô’ tụng hình sự năm 2003 quy định Điều tra viên, Kiểm sát viên có quyền tham dự giám định, nhưng phải báo trước cho người giám định biết mà không quy định quyền của người bào chữa. Việc trả hồ sơ điều tra bổ sung cũng không được thông báo cho người bào chữa. Một sô’ khiếu nại, tô’ cáo, kiến nghị của người bào chữa chưa được Viện kiểm sát nhân dân trả lời hoặc giải quyết chưa thỏa đáng.

Về phần mình, Tòa án các cấp đã tạo điều kiện thuận lợi trong việc cấp Giấy chứng nhận bào chữa, nghiên cứu, sao chụp hồ sơ vụ án và tham gia tranh tụng tại phiên tòa. Tuy nhiên, còn một sô’ vướng mắc về thủ tục liên quan đến yêu cầu của người thân bị cáo cấp phúc thẩm, cũng như các vấn đề khác chưa được giải quyết. Một sô’ biểu hiện cụ thể:

- Theo khoản 3 Điều 56 Bộ luật tô’ tụng hình sự năm 2003, một người bào chữa có thể bào chữa cho nhiều người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong cùng một vụ án, nếu quyền và lợi ích của họ không đối lập nhau, nhưng việc xác định tính chất “không đốì lập nhau” thưòng chưa rõ ràng, tùy thuộc vào nhận định của cơ quan tiến hành tô’ tụng. Quy định tại điểm c khoản 3 Điều 58 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định người bào chữa không được từ chòi bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo mà mình đã đảm nhận bào chữa, nếu không có lý do chính đáng, nhưng pháp luật chưa minh định rõ thế nào là “có lý do chính đáng”.

- Luật sư không được Tòa án thông báo về quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung, thậm chí, có trường hợp quyết định nói trên còn đóng dấu “mật”, ảnh hưỏng đến quá trình tham gia tố tụng của người bào chữa.

- Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 không quy định các trường hợp người bào chữa được quyền chủ động đề xuất người làm chứng, chứng cứ, cũng như triệu tập những người liên quan khác có mặt tại phiên tòa nếu không được sự chấp thuận của Tòa án.

- Khoản 1 Điều 64 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định về chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định mà Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án, nhưng chưa có cơ chế thừa nhận các chứng cứ do Luật sư thu thập được. Điêu 66 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 cũng không quy định quyền đánh giá chứng cứ của Luật sư.

- Điều 218 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định chủ tọa phiên tòa không được hạn chế thời gian tranh luận, tạo điều kiện cho những người tham gia tranh luận trình bày hết ý kiến, nhưng có quyền cắt những ý kiến không có liên quan đến vụ án. Nội hàm của khái niệm “không liên quan vụ án” trên thực tế, cũng được diễn giải khác nhau, nên chủ tọa có thể dùng quyền của mình để cắt ý kiến của người bào chữa. Nếu Kiểm sát viên không đáp lại thì cũng không có cơ chế nào buộc họ phải tranh luận đến cùng. Chất lượng và kết quả tranh tụng do vậy bị hạn chế và chưa hình thành được cơ chế và khuôn khổ pháp lý cho việc bảo đảm phán quyết của Tòa án phải xuất phát từ kết quả tranh tụng tại phiên tòa.

>> Xem thêm:  Số điện thoại luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài

- Khoản 3 Điều 224 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định về nội dung bản án, nhưng chưa cụ thể hóa được chủ trương nêu trong Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02-01- 2002 của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam khóa IX yêu cầu phán quyết của Tòa án phải xuất phát từ kết quả tranh tụng tại phiên tòa.

- Điểm k khoản 2 Điều 58 Bộ luật tô' tụng hình sự năm 2003 quy định Luật sư có quyền kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án nếu bị cáo là người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm vê' tâm thần hoặc thể chất. Tuy nhiên, điều quy định nói trên chưa nói rõ quyển kháng cáo của Luật sư trong trường hợp này là độc lập hay phải tùy thuộc ý chí của bị cáo hoặc của người đại diện hợp pháp cho bị cáo.

- Trong giai đoạn từ khi kết thúc phiên tòa sơ thẩm cho đến khi vụ án được Tòa phúc thẩm phân công cho Thẩm phán thụ lý giải quyết, Luật sư không được giải quyết thủ tục yêu cầu cấp Giấy chứng nhận người bào chữa nên không có điều kiện hỗ trợ, giúp đỡ cho bị cáo. Nghị quyết số 03/2004/NQ-HĐTP ngày 02-10-2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tôì cao hướng dẫn phải có chữ ký yêu cầu người bào chữa của bị cáo thì mới giải quyết cấp Giấy chứng nhận người bào chữa, trong khi muôn vào Trại tạm giam gặp bị cáo để lấy chữ ký thì phải có tư cách là người bào chữa được Tòa án chấp nhận. Đây thực chất là vòng luẩn quẩn, gây khó khăn cho việc hành nghề của Luật sư, hạn chê quyền nhờ người khác bào chữa của bị cáo.

- Trong phiên tòa phúc thẩm, việc bổ sung chứng cứ mổi hoặc bổ sung tài liệu, đồ vật của người bào chữa được quy định tại Điều 246 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, nhưng trình tự điều tra, thu thập các chứng cứ, tài liệu, đồ vật này chưa đừợc pháp luật quy định rõ.

- Theo Điều 280 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, khi xét thấy cần thiết, Tòa án phải triệu tập người bị kết án, người bào chữa và có thể triệu tập những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng nghị tham gia phiên tòa giám đốc thẩm. Khoản 2 Điều 282 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 cũng quy định, nếu đã triệu tập người bị kết án, người bào chữa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng nghị thì những người này được trình bày ý kiến trước khi đại diện Viện kiểm sát phát biểu. Trong trường hợp họ vắng mặt thì Hội đồng giám đốc thẩm vẫn có thể tiến hành xét xử. Tuy nhiên, trên thực tế, thường ít có việc Luật sư được tham gia và có cơ hội trình bày ý kiến bào chữa tại các phiên Tòa giám đốic thẩm.

Ngoài ra, pháp luật hiện nay chưa có ghi nhận việc đáp ứng nhu cầu của người đang thi hành án hình sự cần được tư vấn pháp luật bởi người bào chữa. Nhu cầu này đặc biệt quan trọng trong các vụ án phức tạp, thiếu chứng cứ trực tiếp và vững chắc, hoặc khi có tình tiết mối có thể dẫn đến tái thẩm. Trong quá trình thụ hình, khi phát sinh những nhu cầu tư vấn tạm hoãn chấp hành hình phạt, xem xét trách nhiệm về kinh tế, dân sự của phạm nhân thì việc tiếp xúc với Luật sư để được tư vấn cũng gặp nhiều khó khăn do thiếu quy định.

 Một số vướng mắc trong pháp luật thực định và những cản ngại trong quá trình tham gia tố tụng hình sự của Luật

>> Xem thêm:  Dịch vụ Luật sư tư vấn pháp luật đầu tư tại thị trường Việt Nam

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Quyền của tổ chức hành nghề luật sư?

Trả lời:

- Thực hiện dịch vụ pháp lý.

-Nhận thù lao từ khách hàng.

-Thuê luật sư Việt Nam, luật sư nước ngoài và nhân viên làm việc cho tổ chức hành nghề luật sư.

-Hợp tác với tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài.

-Thành lập chi nhánh, văn phòng giao dịch trong nước.

- Đặt cơ sở hành nghề ở nước ngoài.

-Các quyền khác theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.

 

Câu hỏi: Mức thù lao của luật sư được tính dựa trên các căn cứ gì?

Trả lời:

- Nội dung, tính chất của dịch vụ pháp lý;

-Thời gian và công sức của luật sư sử dụng để thực hiện dịch vụ pháp lý;

- Kinh nghiệm và uy tín của luật sư.

Câu hỏi: Thù lao của luật sư được tính theo các phương thức nào?

Trả lời:

-Giờ làm việc của luật sư;

-Vụ, việc với mức thù lao trọn gói;

-Vụ, việc với mức thù lao tính theo tỷ lệ phần trăm của giá ngạch vụ kiện hoặc giá trị hợp đồng, giá trị dự án;

- Hợp đồng dài hạn với mức thù lao cố định.