Luật sư tư vấn:

1. Căn cứ áp dụng án treo hiện nay

Theo quy định của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì có bốn căn cứ để cho người bị kết án tù được hưởng án treo. Cụ thể:

1.1 Về mức hình phạt tù

Mức hình phạt tù là căn cứ đầu tiên để toà án xem xét cho người bị kết án tù có được hưởng án treo hay không.

Những người bị toà án phạt tù không quá 3 năm, không kể tội đã phạm là tội gì đều có thể được xem xét cho hưởng án treo.

Mức hình phạt tù không quá 3 năm được tuyên phải phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm, trên cơ sở tuân thủ các căn cứ quyết định hình phạt áp dụng cho trường hợp phạm tội cụ thể. Khi quyết định hình phạt phải tuân thủ nguyên tắc xử lí quy định tại Điều 3 BLHS kết hợp với các căn cứ quyết định hình phạt quy định tại Điều 50 BLHS; không được cho rằng án treo là một loại hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù để tăng hình phạt lên cao hơn các trường hợp khác không có căn cứ và cho hưởng án treo; không được tuỳ tiện giảm mức hình phạt tù không có căn cứ để đủ điều kiện về mức hình phạt tù quy định tại Điều 65 BLHS và cho hưởng án treo.

1.2 Về nhân thân người phạm tội

Người được hưởng án treo phải là người có nhân thân tốt. Vì những đặc điểm nhân thân của người phạm tội không chỉ là căn cứ quan trọng của quyết định hình phạt mà còn là căn cứ cần thiết để xem xét người phạm tội với điều kiện cụ thể có khả năng tự giáo dục, cải tạo hay không để quyết định cho hưởng án treo.

Theo hướng dẫn hiện hành, có nhân thân tốt được chứng minh là ngoài lần phạm tội này họ luôn tôn trọng các quy tắc xã hội, chấp hành đúng chính sách, pháp luật, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của công dân nơi cư trú, công tác; không vi phạm các điều mà pháp luật cấm.

Trường hợp người phạm tội có án tích nhưng đã được xoá án tích, được đương nhiên xoá án tích thì coi là chưa bị kết án; đã bị xử lí hành chính, xử lí kỉ luật nhưng đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử lí vi phạm hành chính, xử lí kỉ luật hoặc hết thời hiệu xử lí vi phạm hành chính, xử lí kỉ luật thì được coi là chưa bị xử lí hành chính, chưa bị xử lí kỉ luật, nhưng không phải là có nhân thân tốt. Việc cho hưởng án treo đối với những trường hợp này phải hết sức chặt chẽ (Xem: Hướng dẫn tại Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao số 0l/2013/NQ-HĐTP ngay 06/11/2013.)

1.3 Có nhiều tĩnh tiết giảm nhẹ

Các tình tiết giảm nhẹ để xem xét cho hưởng án treo là những tình tiết được quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS cũng như các tình tiết giảm nhẹ được toà án xác định trong từng vụ án cụ thể (phù hợp quy định của khoản 2 Điều 51 BLHS). Nhằm bảo đảm việc xét cho hưởng án treo được áp dụng một cách chặt chẽ, nghiêm túc, toà án chỉ cho hưởng án treo đối với các trường hợp sau (xem: Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao số 01/2013/NQ-HĐTP ngày 06/11/2013):

>> Xem thêm:  Tư vấn về mức hình phạt đối với tội ghi lô đề trái phép ?

- Không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 BLHS và có từ 2 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên trong đó ít nhất phải có 01 tình tiết được ghi nhận tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

- Nếu có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì phải có từ 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên, trong đó có ít nhất 02 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Những tình tiết giảm nhẹ được toà án xác định theo khoản 2 Điều 51 BLHS là những tình tiết được hướng dẫn tại điểm c mục 5 Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao số 01/2000/NQ-HĐTP ngày 04/8/2000 “Hướng dẫn áp dụng một số quy định trong Phần chung của BLHS năm 1999”;

1.4 Thuộc trường hợp không cần bắt chấp hành hĩnh phạt tù

Khi áp dụng án treo, toà án chủ yếu dựa vào 3 căn cứ cần phải có trên đây để kết luận về khả năng tự giáo dục, cải tạo của người bị kết án tù với sự giúp đỡ của xã hội, gia đình. Mặt khác, toà án phải đối chiếu với yêu cầu phòng ngừa và chống tội phạm ở từng loại tội trong môi trường xã hội nhất định của từng thời kì. Người phạm tội thuộc trường hợp được hưởng án treo phải là người thực sự có khả năng tự hoàn lương trong môi trường xã hội cụ thể, không có nguy cơ tái phạm hoặc không gây ảnh hưởng xấu đến phòng, chống tội phạm, bởi tính chất loại tội phạm họ đã thực hiện cũng như do ảnh hưởng xấu của đối tượng xung quanh.

Không cho hưởng án treo nếu thuộc một trong các trường họp sau đây:

- Người phạm tội thuộc đối tượng cần phải nghiêm trị, bao gồm: người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chóng đối, lưu manh, côn đồ, tái phạm nguy hiểm, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội; người phạm tội dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả nghiêm trọng; phạm tội đặc biệt nghiêm trọng;

- Bị xét xử trong cùng một lần về nhiều tội;

- Trong hồ sơ thể hiện là ngoài lần phạm tội và bị đưa ra xét xử, họ còn có hành vi phạm tội khác đã bị xét xử trong một vụ án khác hoặc đang bị khởi tố, điều tra, truy tố trong một vụ án khác;

- Bị cáo tại ngoại bỏ trốn trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, toà án đã đề nghị cơ quan điều tra truy nã (Xem: Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao số 0l/2013/NQ-HĐTP ngày 06/11/2011).

2. Thời gian thử thách của án treo

>> Xem thêm:  Khái niệm án treo và điều kiện được hưởng án treo?

Khoản 1 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định, toà án "ẩn định thời gian thử thách từ 01 năm đến 05 năm" cho người được hưởng án treo.

Như vậy, khi quyết định cho người bị kết án tù được hưởng án treo, toà án đồng thời buộc phải tuyên thời gian thử thách đối với người này trong giới hạn luật định vì chế định án treo chỉ có ý nghĩa khi thời gian thử thách được tuyên đúng. Đó là khoảng thời gian đủ để người bị án treo tự khẳng định về sự tự giác cải tạo, giáo dục của mình. Mặt khác, thời gian thử thách của án treo cũng giúp toà án có điều kiện kiểm tra tính đúng đắn trong việc áp dụng án treo thông qua phân tích, đánh giá những thông tin cần thiết từ cơ quan, tổ chức chịu trách nhiệm giám sát, giáo dục người bị án treo. Vì vậy, việc tuyên thời gian thử thách của án treo là bắt buộc, không thể cho hưởng án treo mà lại miễn thời gian thử thách.

Thời gian thử thách của án treo được quy định từ 01 năm đến 05 năm. Để đảm bảo ý nghĩa cần và đủ cho sự tự tu dưỡng, giáo dục bản thân của người được hưởng án treo, thời gian thử thách của án treo không được thấp hơn mức hình phạt tù đã tuyên. Thực tiễn xét xử thống nhất ấn định thời gian thử thách của án treo bằng 2 lần mức hình phạt tù đã tuyên, nhưng không được dưới 01 năm và không được quá 05 năm (Xem: Hướng dẫn tại Nghị quyết cùa Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao số Ol/2013/NQ-HĐTP ngay 06/11/2013 và Các Nghị quyết số 01/HĐTP ngày 18/10/1990, Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007, Nghị quyết so Ól/2013/NQ-HĐTP ngày 06/11/2013 đều có nội dung tương tự).

Ví dụ: Người bị toà án xử phạt 02 năm tù và cho hưởng án treo thì toà án ấn định thời gian thử thách đối với họ là 04 năm.

Về cách tính thời gian thử thách của án treo, BLHS không có quy định cụ thể. Tuy nhiên, theo hướng dẫn thì thời gian thử thách của án treo được tính từ ngày tuyên bản án cho hưởng án treo, néu người bị kết án có nhiều bản án cho hưởng án treo thì thời gian thử thách tính từ ngày tuyên bản án đầu tiên cho hưởng án treo.

Để khuyến khích người bị án treo tích cực tự giáo dục, rèn luyện bản thân để sớm được khẳng định là người dân có ích cho xã hội, khoản 4 Điều 65 BLHS quy định:

"Người được hưởng án treo đã chấp hành được một phần hai thời gian thử thách và có nhiều tiến bộ thì theo đề nghị của cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giảm sát và giáo dục, toà án có thể quyết định rút ngan thời gian thử thách".

Điều kiện được xét giảm thời gian thử thách đối với người được hưởng án treo là:

- Đã chấp hành được 1/2 thời gian thử thách; nhiều tiến bộ, được thể hiện ở việc chấp hành nghiêm chỉnh nghĩa vụ của người được hưởng án treo, chấp hành đúng chính sách, pháp luật của Nhà nước, nội quy, quy chế nơi làm việc; tích cực lao động, học tập tu dưỡng sửa chữa lỗi lầm, thực hiện đầy đủ các hình phạt bổ sung và các nghĩa vụ khác có trong bản án (Xem: Thông tư liên tịch số 08/2012/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC ngày 14/8/2012 hướng dẫn rút ngẳn thời gian thử thách của án treo. Theo Thông tư liên tịch số 08/012/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC ngày 14/8/2012 hướng dẫn rút ngắn thời gian thử thách của án treo thì sự đề nghị này là của uỷ ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội).

- Có đề nghị của cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giám sát và giáo dục người được hưởng án treo. Người được hưởng án treo có thể được rút ngắn thời gian thử thách nhiều lần nhưng phải đảm bảo thực tế chấp hành là 3/4 thời gian thử thách toà án tuyên trong bản án treo (Xem: Thông tư liên tịch số 08/2012/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC ngày 14/8/2012. Và Điều 3 Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007).

Toà án có thẩm quyền xét giảm thời gian thử thách cho người được hưởng án treo là toà án nhân dân cấp huyện nơi người được hưởng án treo đang cư trú, toà án quân sự khu vực nơi người được hưởng án treo làm việc (theo khoản 1 Điều 66 Luật thi hành án hình sự).

>> Xem thêm:  Khái niệm cải tạo không giam giữ ? án treo ? Phân biệt hình thức cải tạo không giam giữ và án treo theo quy định pháp luật

3. Vấn đề giám sát, giáo dục người được hưởng án treo trong thòi gian thử thách

Để phát huy hiệu quả và tác dụng của án treo, khoản 2 Điều 65 BLHS quy định:

"Trong thời gian thử thách, toà án giao người được hưởng án treo cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc hoặc chỉnh quyền địa phương nơi người đó cư trú để giảm sát, giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tể chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó".

Như vậy, khi quyết định cho người bị kết án là người đang làm việc hoặc học tập tại các cơ quan, tổ chức được hưởng án treo mà vẫn được tiếp tục làm việc thì toà án giao người này cho cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục. Trường hợp người bị kết án không thuộc các đối tượng này thì toà án giao cho chính quyền địa phương (uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn) nơi người đó thường trú để giám sát và giáo dục. Riêng đối với người được hưởng án treo là quân nhân, công nhân quốc phòng mà vẫn được tại ngũ thì toà án giao trách nhiệm cho đơn vị quân đội từ cấp đại đội hoặc tương đương trở lên giám sát, giáo dục.

Vấn đề này có ý nghĩa thiết thực, nhằm đảm bảo trách nhiệm của xã hội với quá trình giúp đỡ người bị án treo tự giáo dục, cải tạo, tránh nguy cơ họ tái phạm. Nhiệm vụ của uỷ ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục người được hưởng án treo được quy định tại Điều 63 Luật thi hành án hình sự. Tuy nhiên, trong việc giám sát, giáo dục người bị án treo, vai trò của gia đình cũng vô cùng quan trọng. Bởi vì gia đình vẫn là nơi sinh hoạt hàng ngày của người bị án treo. Vì vậy, BLHS đã quy định: "gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tố chức, chính quyển địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó" (khoản 2 Điều 65 BLHS). vấn đề trách nhiệm và quyền của cơ quan, tổ chức và gia đình trong việc giám sát, giáo dục người được hưởng án treo đã được quy định tại Chương III Nghị định của Chính phủ số 61/2000/NĐ-CP ngày 30/10/2000.

4. Hình phạt bổ sung đối với người được hưởng án treo

Theo quy định tại khoản 3 Điều 60 BLHS năm 1999, người được hưởng án treo có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định. Khoản 3 Điều 60 BLHS năm 1999 được coi là căn cứ pháp lí để áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cẩm hành nghề hoặc làm công việc nhất định ngay cả khi chế tài của điều luật về tội phạm được áp dụng không quy định các hình phạt này. Các hình phạt có ý nghĩa bổ sung đổi với việc cho hưởng án treo, vì vậy có thể được áp dụng song song với hình phạt bổ sung được quy định trong điều luật và được áp dụng với ý nghĩa bổ sung cho việc tuyên hình phạt tù giam.

Khoản 3 Điều 65 BLHS năm 2015 sửa đổi quy định tương ứng của BLHS năm 1999 như sau:

"Toà án có thể quyết định áp dụng đối với người được hưởng án treo hình phạt bổ sung nếu trong điều luật áp dụng có quy định hình phạt này".

Quy định này giới hạn lại các hình phạt bổ sung có thể được áp dụng đối với người được hưởng án treo, thống nhất căn cứ là quy định của điều luật áp dụng, tuy nhiên nó lại không phân định rõ ràng hình phạt bổ sung được toà án tuyên đối với người phạm tội (giai đoạn quyết định hình phạt) và hình phạt bổ sung được toà án tuyên đối với người bị kết án được cho hưởng án treo (giai đoạn quyết định về chấp hành hình phạt). Vì thế, quy định này có thể dẫn đến cách hiểu và vận dụng không thống nhất, đặc biệt trong trường hợp xác định hậu quả pháp lí của việc vi phạm điều kiện thử thách của án treo.

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến lĩnh vực hình sự về trách nhiệm hình sự, quyết định hình phạt, tổng hợp hình phạt, Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài. Đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực hình sự luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp cụ thể.

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Trường hợp nào được hoãn thi hành án hình sự ?

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Tù chung thân có được giảm xuống thành tù có thời hạn không? Mẫu đơn xin giảm án phạt tù ?