- 1. Thời gian thử thách là gì và ý nghĩa pháp lý trong án treo
- 2. Cách tính thời gian thử thách đối với người được hưởng án treo
- 3. Quy định về thời gian thử thách sau khi chấp hành xong án tù
- 4. Phân biệt giữa án treo và thời gian thử thách
- 5. Những lưu ý quan trọng về nghĩa vụ trong thời gian thử thách
- 6. Giải đáp các thắc mắc thường gặp về thời gian thử thách
1. Thời gian thử thách là gì và ý nghĩa pháp lý trong án treo
Trong pháp luật hình sự Việt Nam, thời gian thử thách là khoảng thời gian do Tòa án ấn định để người được hưởng án treo hoặc người được tha tù trước thời hạn có điều kiện chịu sự giám sát, giáo dục và phải chứng minh khả năng tự cải tạo ngoài xã hội. Hiểu ngắn gọn, đây là “giai đoạn kiểm nghiệm” việc chấp hành pháp luật của người bị kết án khi họ không phải chấp hành hình phạt tù trong trại giam hoặc được ra khỏi trại giam sớm có điều kiện.
Đối với án treo, thời gian thử thách gắn trực tiếp với Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Án treo không phải là một hình phạt độc lập, mà là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện. Điều đó có nghĩa là người bị kết án vẫn bị tuyên phạt tù, nhưng được ở ngoài xã hội nếu đáp ứng đủ điều kiện và chấp hành nghiêm trong thời gian thử thách.
Ý nghĩa pháp lý của thời gian thử thách thể hiện ở ba điểm chính.
Thứ nhất, đây là công cụ nhân đạo hóa hình phạt. Người phạm tội không bị cách ly khỏi gia đình, công việc và cộng đồng, nhưng vẫn phải chịu sự ràng buộc pháp lý.
Thứ hai, đây là cơ chế kiểm soát có điều kiện. Nếu trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ từ 2 lần trở lên hoặc phạm tội mới, Tòa án có thể buộc họ phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Thứ ba, thời gian thử thách là căn cứ để đánh giá sự tiến bộ, làm cơ sở xem xét rút ngắn thời gian thử thách hoặc tính thời hạn xóa án tích sau này.
2. Cách tính thời gian thử thách đối với người được hưởng án treo
Theo Điều 65 Bộ luật Hình sự và Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP, đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP, thời gian thử thách của người được hưởng án treo được xác định theo nguyên tắc:
- Bằng 2 lần mức hình phạt tù mà Tòa án đã tuyên
- Không dưới 1 năm
- Không quá 5 năm
Ví dụ:
- Nếu bị tuyên 6 tháng tù và được hưởng án treo thì thời gian thử thách là 1 năm.
- Nếu bị tuyên 1 năm tù và được hưởng án treo thì thời gian thử thách là 2 năm.
- Nếu bị tuyên 2 năm tù và được hưởng án treo thì thời gian thử thách là 4 năm.
- Nếu bị tuyên 3 năm tù và được hưởng án treo thì theo công thức sẽ là 6 năm, nhưng luật khống chế tối đa 5 năm, nên thời gian thử thách chỉ là 5 năm.
Một điểm rất quan trọng là thời gian tạm giữ, tạm giam trước đó không được trừ vào thời gian thử thách. Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP đã làm rõ điểm này để tránh nhầm lẫn trong thực tiễn.
Về thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách, pháp luật phân định như sau:
- Nếu án sơ thẩm cho hưởng án treo và không có kháng cáo, kháng nghị, hoặc phúc thẩm vẫn giữ nguyên án treo, thì tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Nếu sơ thẩm không cho hưởng án treo nhưng phúc thẩm sửa án và cho hưởng án treo, thì tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
- Nếu vụ án bị hủy để xét xử lại, thời điểm tính còn phụ thuộc vào từng trường hợp cụ thể theo hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán.
Vì vậy, khi xác định ngày kết thúc thử thách, không nên chỉ nhìn vào ngày bản án có hiệu lực, mà phải đối chiếu đúng mốc tố tụng theo từng trường hợp.
3. Quy định về thời gian thử thách sau khi chấp hành xong án tù
Cụm từ “thời gian thử thách sau khi chấp hành xong án tù” rất dễ bị hiểu sai. Về mặt pháp lý, cần tách thành hai trường hợp.
Trường hợp thứ nhất là người được tha tù trước thời hạn có điều kiện theo Điều 66 Bộ luật Hình sự. Đây là trường hợp người đang chấp hành án phạt tù được Tòa án cho ra khỏi trại giam sớm khi đã đáp ứng đủ điều kiện luật định. Khi đó, họ vẫn phải chịu thời gian thử thách, và thời gian thử thách bằng đúng phần thời gian tù còn lại chưa chấp hành.
Ví dụ, một người còn 18 tháng tù nhưng được tha tù trước thời hạn có điều kiện thì thời gian thử thách sẽ là 18 tháng.
Trong thời gian này, nếu họ cố ý vi phạm nghĩa vụ 2 lần trở lên, bị xử phạt vi phạm hành chính 2 lần trở lên, hoặc phạm tội mới, Tòa án có thể hủy quyết định tha tù trước thời hạn và buộc họ quay lại chấp hành phần hình phạt tù còn lại.
Trường hợp thứ hai là người đã chấp hành xong toàn bộ hình phạt tù giam, tức mãn hạn tù. Với trường hợp này, pháp luật không đặt ra thời gian thử thách nữa. Tuy nhiên, họ vẫn có thể còn chịu các hệ quả pháp lý khác như:
- Chấp hành hình phạt bổ sung, chẳng hạn quản chế hoặc cấm cư trú nếu bản án có tuyên
- Chờ đủ thời hạn để được đương nhiên xóa án tích hoặc được xóa án tích theo quyết định của Tòa án
Nói cách khác, sau khi chấp hành xong hoàn toàn án tù giam, không còn “thử thách” theo nghĩa của án treo hoặc tha tù trước thời hạn có điều kiện, nhưng vẫn có thể còn những ràng buộc pháp lý khác.
4. Phân biệt giữa án treo và thời gian thử thách
Án treo và thời gian thử thách có liên quan chặt chẽ nhưng không phải là một.
Án treo là chế định pháp lý. Đây là quyết định của Tòa án cho người bị phạt tù không quá 3 năm được miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện.
Thời gian thử thách là khoảng thời gian cụ thể mà người được hưởng án treo phải trải qua để chứng minh mình chấp hành tốt pháp luật và các nghĩa vụ theo luật.
Có thể hiểu đơn giản như sau:
- Án treo là “quy chế được ở ngoài tù”
- Thời gian thử thách là “thời hạn phải chấp hành điều kiện của quy chế đó”
Sự khác nhau cơ bản gồm:
- Án treo là quyết định cho hưởng chế độ đặc biệt; thời gian thử thách là thời hạn vận hành của chế độ đó.
- Án treo chỉ áp dụng khi có đủ điều kiện luật định; thời gian thử thách được tính theo mức án tù đã tuyên.
- Khi vi phạm, người bị tước án treo sẽ phải chấp hành hình phạt tù; còn thời gian thử thách đã qua không được tự động chuyển thành thời gian đã chấp hành tù.
Đây là lý do trong thực tế không thể nói “bị phạt thời gian thử thách” mà phải hiểu đúng là “được hưởng án treo và phải chấp hành thời gian thử thách”.
5. Những lưu ý quan trọng về nghĩa vụ trong thời gian thử thách
Theo Luật Thi hành án hình sự 2019, người được hưởng án treo trong thời gian thử thách không được tự do tuyệt đối, mà phải thực hiện nhiều nghĩa vụ bắt buộc.
Các nghĩa vụ quan trọng gồm:
- Có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan thi hành án hình sự
- Cam kết chấp hành án
- Tuân thủ pháp luật, nghĩa vụ công dân, nội quy nơi cư trú, nơi làm việc
- Chịu sự giám sát, giáo dục của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc đơn vị quân đội được giao trách nhiệm
- Hằng tháng báo cáo bằng văn bản về tình hình chấp hành nghĩa vụ
- Chấp hành đầy đủ án phí, bồi thường thiệt hại, phạt tiền hoặc các nghĩa vụ khác trong bản án nếu có
Về việc đi khỏi nơi cư trú, người được hưởng án treo có thể vắng mặt nếu có lý do chính đáng và được đồng ý, nhưng:
- Mỗi lần không quá 60 ngày
- Tổng thời gian vắng mặt không quá 1/3 thời gian thử thách, trừ trường hợp đặc biệt như chữa bệnh theo chỉ định
Một lưu ý rất quan trọng là người được hưởng án treo không được xuất cảnh trong thời gian thử thách.
Ngoài ra, nếu chấp hành tốt, người được hưởng án treo có thể được đề nghị rút ngắn thời gian thử thách khi:
- Đã chấp hành được ít nhất một nửa thời gian thử thách
- Có nhiều tiến bộ
- Được cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giám sát đề nghị
Ngược lại, nếu cố ý vi phạm nghĩa vụ từ 2 lần trở lên hoặc phạm tội mới, hậu quả pháp lý rất nặng: có thể bị buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã được cho hưởng án treo.
6. Giải đáp các thắc mắc thường gặp về thời gian thử thách
Thời gian thử thách có phải là thời gian đã chấp hành án tù không?
Không. Đây là thời gian chấp hành nghĩa vụ ngoài xã hội, dưới sự giám sát, giáo dục. Nó không đồng nhất với thời gian ở tù.
Thời gian tạm giữ, tạm giam có được trừ vào thời gian thử thách không?
Không. Theo hướng dẫn hiện hành, thời gian tạm giữ, tạm giam không được trừ vào thời gian thử thách của án treo.
Người hưởng án treo có được đi làm ăn xa không?
Có thể, nhưng phải xin phép và được cơ quan có thẩm quyền đồng ý theo quy định của Luật Thi hành án hình sự. Việc vắng mặt phải đúng giới hạn thời gian luật định.
Người hưởng án treo có được đi nước ngoài không?
Không. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo không được xuất cảnh.
Sau khi hết thời gian thử thách có đương nhiên hết án tích ngay không?
Không phải ngay lập tức trong mọi trường hợp. Theo Điều 70 Bộ luật Hình sự, người được hưởng án treo chỉ được đương nhiên xóa án tích nếu sau khi hết thời gian thử thách, đã chấp hành xong hình phạt bổ sung và các quyết định khác của bản án, đồng thời không phạm tội mới trong thời hạn luật định. Với án treo, thời hạn này là 1 năm.
Nếu đang trong thời gian thử thách mà phạm tội mới thì sao?
Tòa án sẽ buộc người đó chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo Điều 56 Bộ luật Hình sự.
Quý bạn đọc cũng có thể xem thêm về thời gian thử thách quy nội dung sau: