Một là, nhà nước pháp quyền là nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở một hệ thong pháp luật dân chủ, tiến bộ, phù hợp và khả thi

Có thể khẳng định, pháp luật là yếu tố cốt tử, yếu tố không thể thiếu song hành với nhà nước pháp quyền, nhưng không phải hệ thống pháp luật nào cũng đủ điều kiện là pháp luật của nhà nước pháp quyền. Pháp luật của nhà nước pháp quyền phải là hệ thống pháp luật tiến bộ, dân chủ, minh bạch, phù hợp với các điều kiện hiện hữu của đất nước như trình độ phát triển của kinh tế - xã hội, đạo đức, phong tục tập quán, truyền thống lịch sử, văn hoá, đặc điểm tâm lí dân tộc, phù hợp với tiến trình phát triển của văn minh nhân loại. Nhờ vậy, pháp luật có đủ điều kiện để được thực hiện nghiêm chỉnh trong thực tế. Hệ thống pháp luật của nhà nước pháp quyền phải thể hiện ý chí của nhân dân, thừa nhận rộng rãi các quyền cơ bản của con người, quyền dân chủ của công dân, đồng thời thể hiện sự tác động qua lại, trách nhiệm tương hỗ giữa nhà nước với các cá nhân, tổ chức trong xã hội cũng như giữa các cá nhân, tổ chức trong xã hội đối với nhau. Pháp luật của nhà nước pháp quyền phải có hiệu lực phổ biến đối với mọi người, phải có tính ổn định để giúp cho các chủ thể có thể dự đoán trước được kết quả hành vi của mình cũng như có thể lường trước được phản ứng của nhà nước hoặc các chủ thể khác đối với hành vi đó. Theo quy định của pháp luật thì không chỉ công dân phải chịu trách nhiệm trước nhà nước mà nhà nước cũng phải chịu trách nhiệm trước công dân.

Tính dân chủ của hệ thống pháp luật không chỉ thể hiện trong nội dung các quy định của pháp luật mà cả trong quá trình xây dựng pháp luật để pháp luật thực sự thể hiện ý chí của nhân dân. Các quy định của pháp luật phải rõ ràng, cụ thể, được công bố công khai và rộng rãi để bất kì ai khi cần bảo vệ các quyền, lợi ích của mình đều có thể dễ dàng tìm được. Hệ thống pháp luật của nhà nước pháp quyền phải có tính khả thi và chủ yếu được thể hiện trong các đạo luật được xây dựng với kĩ thuật lập pháp cao, trong đó Hiến pháp có hiệu lực pháp lí cao nhất. Có thể khẳng định, pháp luật chủ nô, phong kiến không đảm bảo các tiêu chí pháp luật của nhà nước pháp quyền. Điều này chính là điểm khác biệt cơ bản giữa nhà nước pháp quyền hay chế độ pháp quyền hiện nay với chế độ pháp trị trước đây.

Sự xuất hiện của nhà nước pháp quyền đã mang lại cho xã hội một giá trị lớn, đó là, pháp luật đã trở thành công lí của thời đại. Pháp luật của nhà nước pháp quyền không còn là “pháp luật của kẻ mạnh” mà luôn hướng tới các tiêu chí của một hệ thống pháp luật dân chủ, tiến bộ và công bằng. Pháp luật không còn là công cụ của riêng nhà nước, điều chỉnh các quan hệ xã hội theo ý chí chủ quan của nhà nước mà là sự kết tinh những giá trị xã hội cao quý nhằm mang lại lợi ích tốt nhất cho nhân dân. Quá trình xây dựng pháp luật có sự tham gia rộng rãi của toàn thể nhân dân để bảo đảm pháp luật thể hiện được ý chí chung của nhân dân. Pháp luật thừa nhận và hướng tới việc bảo đảm, bảo vệ tốt nhất quyền con người, quyền công dân, hướng tới việc bảo vệ công bằng xã hội, vì vậy, nó thực sự trở thành chuẩn mực chung được mọi người thừa nhận. Các quy định trong hệ thống pháp luật được xây dựng trên cơ sở đảm bảo sự hài hoà giữa lợi ích cá nhân, nhóm xã hội với lợi ích chung của toàn xã hội. Hoạt động áp dụng pháp luật cũng được tiến hành trên cơ sở và theo nguyên tắc bảo vệ công lí, bảo đảm, bảo vệ các quyền con người, tự do cá nhân, bảo đảm công bằng, bình đẳng trong xã hội.

Hai là, nhà nước pháp quyền là nhà nước bảo đảm vị trí tối thượng của pháp luật trong đời sống nhà nước và đời sống xã hội

Nói đến pháp quyền là nói đến quyền lực hay sức mạnh của pháp luật. Trong hệ thống pháp luật của nhà nước pháp quyền, Hiến pháp là đạo luật thể hiện một cách tập trung ý chí của nhân dân, có hiệu lực pháp lí cao nhất. Sự thống trị của Hiến pháp và pháp luật chính là cơ sở để hình thành nên nhà nước pháp quyền, vì thế, tôn trọng và thực hiện nghiêm chỉnh Hiến pháp và pháp luật là nhu cầu tự thân của nhà nước pháp quyền. Mối quan hệ giữa nhà nước và pháp luật trong nhà nước pháp quyền diễn ra theo hướng tương tác và hỗ trợ lẫn nhau. Mặc dù pháp luật do nhà nước ban hành song khi đã có hiệu lực pháp lí thì pháp luật lại có giá trị ràng buộc đối với nhà nước, trở thành cơ sở pháp lí cho toàn bộ quá trình tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước và cũng là cơ sở để giới hạn, kiểm soát quyền lực nhà nước.

Tất cả các cơ quan và nhân viên nhà nước đều phải tuyệt đối tuân thủ Hiến pháp và pháp luật trong hành vi của mình và chỉ được làm những gì mà Hiến pháp và pháp luật cho phép, phải thực thi Hiến pháp và pháp luật theo đúng những nguyên tắc và trình tự đã được quy định. Bản thân nhà nước phải có những thiết chế và cơ chế để giám sát việc tuân theo hiến pháp và pháp luật của chính mình, đó là: Toà án hiến pháp, sự độc lập của tư pháp, sự giám sát của công dân, của các tổ chức khác trong hệ thống chính trị, trong xã hội dân sự... Bất kì cơ quan, nhân viên nhà nước nào, nếu vi phạm pháp luật đều phải chịu trách nhiệm pháp lí theo đúng pháp luật, nếu gây thiệt hại cho lợi ích của cá nhân, tổ chức thì phải bồi thường.

Pháp luật không chỉ giữ địa vị thống trị trong đời sống nhà nước mà cả trong đời sống xã hội. Đối với tất cả các chủ thể trong xã hội, pháp luật luôn ở vị trí cao nhất trong số các chuẩn mực xã hội, luôn đứng cao hơn phong tục, tập quán, tín điều tôn giáo, các chuẩn mực đạo đức, quy định của các tổ chức phi nhà nước... Tất cả các tổ chức phi nhà nước và mọi cá nhân, mặc dù có thể làm tất cả những gi mà luật không cấm song đều có nghĩa vụ tôn trọng và thực hiện pháp luật trong hành vi của mình, nếu vi phạm pháp luật thì đều phải chịu trách nhiệm pháp lí.

Trong xu thế toàn càu hoá hiện nay, quan hệ đối ngoại của nhà nước pháp quyền phải được điều chỉnh trên cơ sở các quy định của pháp luật quốc tế. Vì vậy tuân thủ nghiêm chỉnh các cam kết quốc tế cũng là yêu cầu, đòi hỏi đối với nhà nước pháp quyền.

Đặc trưng này cũng thể hiện một giá trị của nhà nước pháp quyền, đó là trong điều kiện nhà nước pháp quyền, lối sống theo pháp luật sẽ trở thành lối sống thịnh hành trong xã hội. Thực tiễn cho thấy, trong các xã hội chiếm hữu nô lệ, phong kiến, khi mà tín điều tôn giáo, đạo đức, phong tục tập quán, hương ước, lệ làng... được coi trọng hơn so với pháp luật thì lối sống theo pháp luật chưa được thiết lập. Trong điều kiện nhà nước pháp quyền, lối sống theo pháp luật trở thành lối sống phổ biến, thịnh hành, đó là lối sống mà trong nhận thức cũng như trong hành vi của các chủ thể luôn thể hiện ý thức khép mình trong khuôn khổ của pháp luật, xử sự theo pháp luật và tích cực đấu tranh để pháp luật được thực hiện nghiêm chỉnh trong xã hội. Nói một cách đơn giản, lối sống theo pháp luật là lối sống mà mỗi người trong xã hội đều hành xử theo đúng phương châm “sống và làm việc theo pháp luật”, đồng thời tích cực đấu tranh để các chủ thể khác cũng sống theo đúng phương châm đó. sống trong môi trường của nhà nước pháp quyền, mỗi người đều ý thức được quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của mình đối với nhà nước, xã hội cũng như đối với các chủ thể khác, ý thức được vị trí tối thượng của pháp luật, qua đó lựa chọn và thực hiện hành vi theo đúng quy định của pháp luật; đồng thời tích cực đẩu tranh bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình, bảo vệ pháp luật như bảo vệ chốn nương thân của mình. Nhờ vậy, thói quen xử sự theo pháp iuật sẽ lấn át thói quen xử sự tuỳ tiện, thói quen xử sự theo đạo đức, phong tục tập quán..., trở thành lối sống phổ biến, thịnh hành trong xã hội và trật tự, kỉ cương xã hội được đảm bảo trong các lĩnh vực hoạt động của đời sống như kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội...

>> Xem thêm:  Nhà nước pháp quyền là gì ? Phân tích các quan điểm về nhà nước pháp quyền

Ba là, nhà nước pháp quyền là nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở chủ quyền của nhân dân

Trong các nhà nước độc tài chuyên chế, nhân dân luôn luôn là đối tượng bị cai trị, áp bức, họ chưa bao giờ được coi là chủ thể của quyền lực nhà nước mà chỉ là khách thể của quyền lực này. Trong nhà nước pháp quyền, toàn bộ quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, nhân dân là chủ thể tối cao và duy nhất của quyền lực nhà nước. Nhân dân thiết lập nên nhà nước, ủy quyền cho nhà nước và kiểm tra giám sát hoạt động của nhà nước. Nhân dân có thể tự mình hoặc thông qua những người đại diện, những tổ chức của mình để tham gia vào tổ chức và hoạt động của nhà nước, giám sát hoạt động của các nhân viên và cơ quan nhà nước. Nhân dân có quyền quyết định tối cao và cuối cùng mọi vấn đề quan trọng của đất nước, nhà nước phải tôn trọng và phục tùng nghiêm chỉnh các quyết định của nhân dân. Đồng thời, nhà nước phải phục vụ cho lợi ích hợp pháp của nhân dân, mọi chính sách của nhà nước đều phải xuất phát từ nhu cầu, lợi ích của nhân dân và phải nhằm đáp ứng các nguyện vọng chính đáng của họ. Chủ quyền của nhân dân và các hình thức thực hiện chủ quyền nhân dân phải được ghi nhận trong Hiến pháp, đạo luật cơ bản, đạo luật gốc của nhà nước.

Như vậy, nhà nước pháp quyền là một nhà nước bảo đảm dân chủ. Theo nghĩa chung nhất, dân chủ nghĩa là quyền lực thuộc về nhân dân, xuất phát từ nhân dân. Trong thực tế, dân chủ có biểu hiện rất rộng và khá phức tạp, dân chủ thể hiện trong mối quan hệ giữa nhân dân với nhà nước nói chung, trong tổ chức và hoạt động của từng cơ quan, nhà chức ưách trong bộ máy nhà nước nói riêng. Trong nhà nước pháp quyền, quyền lực nhà nước xuất phát từ nhân dân, do nhân dân ủy quyền cho nhà nước thực hiện nên quyền lực trong phạm vi được ủy quyền bị giới hạn bởi pháp luật, xã hội được quản lí bằng pháp luật; nhà nước thừa nhận, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ các quyền con người, quyền tự do dân chủ của công dân trong các lĩnh vực của đời sống; các cơ quan nhà nước, nhà chức trách có thẩm quyền phải tôn trọng nhân dân, lắng nghe nhân dân; nhân dân được tham gia vào tiến trình phát triển của xã hội, vào việc đảm bảo quyền con người, vào sự phát triển kinh tế và vào việc đảm bảo công bằng xã hội... Dân chủ và pháp luật là những nhân tố thiết yếu trong sự phát triển và giữ vai trò cao nhất trong tâm tưởng của các nhà hoạch định chính sách của quốc gia. Dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là điều kiện của nhà nước pháp quyền.

Sự tồn tại của nhà nước pháp quyền cho thấy, nhân dân đã được thừa nhận là chủ thể tối cao và duy nhất của quyền lực nhà nước. Đây là một giá trị to lớn của nhà nước pháp quyền. Với sự ra đời của nhà nước pháp quyền, quyền lực nhà nước không còn được coi là quyền lực thiên tạo, xuất phát từ Thượng đế mà được khẳng định là bắt nguồn từ nhân dân. Trong nhà nước pháp quyền, quyền lực nhà nước không phải là quyền lực tự thân của nhà nước, quyền lực đó là do nhân dân trao cho, nhà nước nhận được quyền lực đó từ nhân dân, quyền lực nhà nước không còn được coi là đứng trên, đứng ngoài nhân dân mà là từ nhân dân, của nhân dân. Vì thế, nhà nước không còn là bộ máy để cai trị, áp bức nhân dân mà là công cụ để thực hiện quyền lực của nhân dân, chỉ được hoạt động trong phạm vi được ủy quyền. Nhân dân không chỉ lập nên nhà nước mà còn có thể thay đổi nhà nước khi nhà nước không xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân. Khi nhà nước không đáp ứng được yêu cầu của nhân dân thì nhân dân hoàn toàn có quyền thay thế nó bằng nhà nước khác để có thể phục vụ nhân dân tốt hơn. Nói cách khác, trong nhà nước pháp quyền, nhân dân mới là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước, có quyền quyết định tối cao các vấn đề cơ bản của đất nước; nhà nước không còn là người quyết định số phận của nhân dân mà ngược lại, nhà nước phải phục tùng nhân dân.

Bốn là, nhà nước pháp quyền là nhà nước thừa nhận, tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ các quyền con người, quyền công dân

Có thể nói, xuất phát từ mong muốn và đòi hỏi hạn chế và kiểm soát quyền lực nhà nước để bảo đảm tự do cho cá nhân mà ý tưởng về nhà nước pháp quyền đã hình thành:

“Tự do, bình đẳng, phấm giá con người và những hình thức thể hiện khác nhau của bảo đảm nhân quyền là những yếu tổ đặc trưng truyền thổng của chế độ pháp trị”.

Quan hệ giữa nhà nước pháp quyền với cá nhân, công dân là mối quan hệ bình đẳng, hài hoà theo nghĩa cả hai bên đều có quyền và nghĩa vụ với nhau, công dân không chỉ có nghĩa vụ mà còn có quyền đối với nhà nước, ngược lại, nhà nước không chỉ có quyền mà còn có nghĩa vụ đối với công dân. Vì thế, tự do của công dân, của cá nhân chính là giới hạn quyền lực của nhà nước, quyền của công dân tỉ lệ nghịch với quyền hạn của nhà nước và phạm vi tự do của công dân rộng hơn phạm vi tự do của nhà nước; trong khi công dân có quyền làm bất cứ việc gì mà luật không cấm thì các cơ quan và nhân viên nhà nước chỉ được làm những gì mà luật cho phép. Trong nhà nước pháp quyền, các quyền con người, tự do cá nhân được nhà nước thừa nhận, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ.

Nhà nước pháp quyền đảm bảo cho mọi cá nhân có quyền tự do và bình đẳng trước pháp luật, có đủ cơ hội về mặt pháp lí để phát triển toàn diện cá nhân, để mỗi cá nhân đều có thể phát huy được hết những khả năng vốn có của mình. Quyền tự do và bình đẳng của công dân được thừa nhận một cách rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác nhau như kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội. Sự công bằng và sự bình đẳng của công dân trong nhà nước pháp quyền không chỉ được bảo đảm về mặt pháp lí mà cả trong thực tiễn, nhà nước bảo đảm cho công dân có đủ điều kiện cần thiết về vật chất, tinh thần để thực hiện được các quyền của mình trong thực tế. Không những thế, nhà nước còn bảo vệ các quyền tự do cá nhân khỏi sự xâm hại của các chủ thể khác, kể cả các cơ quan nhà nước. Công dân có quyền thay đổi những người cầm quyền khi những người này xâm hại đến các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, có quyền chống lại sự can thiệp tuỳ tiện, trái pháp luật của những người cầm quyền, đồng thời có nghĩa vụ tôn trọng, thực hiện pháp luật, họ phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ pháp lí của mình đối với nhà nước và đối với các chủ thể khác.

Trong nhà nước pháp quyền “Nhà nước là khối liên hiệp của nhiều người dưới sự điều tiết của luật pháp; không khỉ nào được coi con người là phưorng tiện để đạt mục đích mà ngược lại, phải coi con người là mục đích cần đạt; mỗi cá nhân và cả xã hội cần tôn trọng và bảo vệ pháp luật; mỗi công dân có các quyền đồng thời có khả năng buộc người nắm quyền lực phải tôn trọng và thực hiện đúng pháp luật đã ban hành”.

Như vậy, một giá trị khác mà nhà nước pháp quyền mang lại cho nhân loại, đó là, quyền con người được thừa nhận, bảo đảm, giá trị của con người được trân trọng. Trước khi có nhà nước pháp quyền, quyền con người, quyền công dân chưa từng được thừa nhận trong pháp luật. Với sự ra đời và phát triển của nhà nước pháp quyền, quyền con người chính thức được thừa nhận công khai, minh bạch trong pháp luật. Quyền con người ngày càng được thừa nhận rộng rãi ở nhiều nước, vị trí quyền con người ngày càng được chú trọng nâng cao, giá trị của con người ngày càng được trân trọng hơn bởi nhà nước và xã hội, việc bảo đảm và bảo vệ quyền con người trở thành mối quan tâm đặc biệt, thành trách nhiệm không chỉ của nhà nước mà còn của cả xã hội. Có thể nói, ngày nay, Hiến pháp và pháp luật của các nhà nước đương đại nhìn chung được xây dựng xoay quanh một trục chính là bảo vệ quyền con người. Cũng chính vì vậy, các giá trị nhân đạo, nhân văn được coi trọng và thể hiện rô. Các chính sách của nhà nước pháp quyền luôn hướng tới việc chuyển nhà nước từ bộ máy chủ yếu quản lí xã hội sang bộ máy chủ yếu phục vụ xã hội. Tính chất phục vụ trong các hoạt động của nhà nước ngày càng được chú trọng, các hoạt động cung cấp dịch vụ công cho xã hội ngày càng được ưu tiên quan tâm và chiếm ưu thế trong số các hoạt động của nhà nước. Phục vụ con người, vì con người và cho con người dần dần trở thành trọng tâm vươn tới củà tất cả các chính sách của nhà nước. Phát triển bền vững là nhu cầu cấp bách và xu thế tất yếu trong tiến trình phát triển của xã hội loài người, nó trở thành mục tiêu hướng tới của tất cả các nhà nước pháp quyền. Tiêu chí để đánh giá sự phát triển bền vững là sự tăng trưởng kinh tế ổn định; thực hiện tốt tiến bộ và công bằng xã hội; khai thác họp lí, sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và nâng cao được chất lượng môi trường sống. Do vậy, có thể nói, trong nhà nước pháp quyền, các giá trị nhân đạo, nhân văn được coi trọng hơn bao giờ hết trong lịch sử phát triển của nhân loại.

>> Xem thêm:  Chế độ chính trị là gì ? Mối quan hệ giữa nhà nước với Đảng chính trị, tổ chức xã hội

Cùng với việc thừa nhận, tồn trọng, bảo đảm, bảo vệ các quyền, giá trị của con người, trách nhiệm của nhà nước đối với cá nhân và xã hội cũng được xác định một cách rõ ràng. Trong các nhà nước độc tài, phát xít thì chỉ có công dân mới phải chịu trách nhiệm trước nhà nước, còn nhà nước thì luôn “đứng trên xã hội”, cai trị xã hội, nhà nước không chịu trách nhiệm trước công dân về những việc làm của mình. Nhà nước pháp quyền ra đời đã làm thay đổi địa vị và trách nhiệm của nhà nước trước cá nhân, công dân và xã hội. Trước pháp luật, nhà nước cũng như mọi cá nhân, tổ chức trong xã hội đều phải chịu trách nhiệm như nhau về hành vi của mình. Mọi hành vi xâm hại các quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức từ phía cơ quan, nhân viên nhà nước đều bị xử lí theo đúng quy định của pháp luật. Trong quá trình thực thi công quyền, nếu gây thiệt hại cho lợi ích hợp pháp của cá nhân hoặc tổ chức khác dưới bất cứ hình thức nào thì nhà nước đều phải bồi thường theo đúng quy định cùa pháp luật.

Năm là, nhà nước pháp quyền là nhà nước được tổ chức và hoạt động theo cơ chế bảo đảm sự phân công và kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan nhà nước

Một trong những đặc điểm làm cho nhà nước pháp quyền hoàn toàn khác vói nhà nước chuyên quyền, độc tài, chuyên chế là quyền lực nhà nước không tập trung trong tay một hoặc một số cá nhân mà được phân công cho nhiều cơ quan nhà nước khác nhau cùng thực hiện. Mỗi cơ quan đó đều có chức năng, thẩm quyền riêng do pháp luật quy định. Mục tiêu của sự phân công đó là nhằm hạn chế tối đa nguy cơ dẫn đến sự lạm quyền, độc đoán trong quá trình thực hiện quyền lực nhà nước. Phân công quyền lực thực chất là sự phân chia chức năng, thẩm quyền giữa các cơ quan nhà nước. Bản chất của việc làm này là nhằm đảm bảo sự cân bằng quyền lực, sự kiềm chế chính quyền, kiểm soát quyền lực nhà nước... Trong nhà nước pháp quyền, hoạt động của nhà nước về căn bản được Hiến pháp phân định thành ba chức năng là lập pháp, hành pháp, tư pháp, mỗi chức năng đó chủ yếu được trao cho một cơ quan nhà nước thực hiện. Tất cả các cơ quan thực hiện các chức năng trên đều được thành lập phù hợp với mục đích hoạt động và theo quy định của pháp luật. Hiến pháp trao cho mỗi cơ quan một phạm vi thẩm quyền cụ thể và quy định mối quan hệ tương hỗ cũng như cơ chế kiềm chế, kiểm soát, thậm chí cả sự đối trọng giữa các cơ quan nhà nước. Nhờ đó, mỗi cơ quan nhà nước không chỉ có thể độc lập, chuyên môn hoá trong hoạt động của mình mà còn phối hợp hoạt động với các cơ quan khác để tạo nên sự thống nhất trong hoạt động của nhà nước, đồng thời có thể kiềm chế, ngăn cản cơ quan khác, ngăn ngừa tình trạng lạm quyền, chuyên quyền độc đoán, sự thiếu trách nhiệm của cơ quan đó, bảo vệ quyền con người, nâng cao hiệu quả hoạt động nhà nước.

Trong thực tiễn tổ chức nhà nước pháp quyền, quyền lập pháp được trao cho nghị viện (quốc hội), quyền hành pháp được trao cho chính phủ và quyền tư pháp được trao cho toà án. Pháp luật dự liệu cụ thể cơ chế để ba cơ quan trên vừa có thể độc lập thực hiện chức năng của mình, vừa có thể phối hợp hoạt động với nhau, đồng thời, vừa có thể giám sát, kiềm chế lẫn nhau, nhờ vậy có thể tránh sự lạm quyền, đảm bảo tính thống nhất của quyền lực nhà nước, nâng cao hiệu quả hoạt động của nhà nước, bảo đảm, bảo vệ tốt nhất các quyền con người, quyền công dân.

Sáu là, nhà nước pháp quyền là nhà nước gắn bó mật thiết với xã hội dân sự

Theo quan niệm hiện đại, xã hội dân sự được hiểu là một lĩnh vực độc lập tương đối của đời sống xã hội đối với nhà nước, trong đó tồn tại và vận hành các nhóm xã hội, các tổ chức mang tính chất văn hoá, tôn giáo, tinh thần, thể hiện các lợi ích khác nhau của con người. Có thể hiểu một cách đơn giản rằng xã hội dân sự được họp thành bởi các tổ chức phi nhà nước nhưng không mang tính chất chính trị, sự tồn tại của xã hội dân sự thể hiện lĩnh vực của xã hội không nhất thiết phải có sự áp đặt của quyền lực nhà nước. Với tư cách là giá trị xã hội, xã hội dân sự là khả năng nội tại của xã hội cho phép công dân được quyền hình thành những tổ chức của mình nhằm đáp ứng nguyện vọng của các hội viên và nhằm thực hiện những mục đích chung của xã hội. Với tư cách là thể chế, xã hội dân sự được coi là thực thể xã hội tồn tại giữa nhà nước, gia đình và cá nhân. Nhà nước pháp quyền là nhà nước đáp ứng đầy đủ các điều kiện chính trị trực tiếp của xã hội dân sự. Thông qua pháp luật, nhà nước quy định quyền và nghĩa vụ pháp lí cho nhà nước, công dân và các tổ chức phi nhà nước nhằm bảo đảm sự tồn tại và vận hành của xã hội dân sự. Nhờ vậy, dân chủ, bình đẳng, công bằng trở thành hiện thực, trở thành các nguyên tắc cơ bản của pháp luật, được quán triệt sâu sắc trong cả quá trình xây dựng pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật lẫn bảo vệ pháp luật. Xã hội càng phát triển thì đòi hỏi dân chủ cũng ngày càng tăng lên, nền dân chủ càng được củng cố và mở rộng. Phạm vi quản lí của nhà nước càng thu hẹp thì phạm vi tự do của xã hội dân sự càng mở rộng. Quyền tự do lập hội của công dân được nhà nước thừa nhận và bảo vệ nên số lượng các hiệp hội phi chính trị, các tổ chức tự quản cũng như vai trò của các tổ chức đó ngày càng tăng lên, sự tham gia của các tổ chức đó vào các hoạt động xã hội, đặc biệt là vào các hoạt động đại diện và bảo vệ lợi ích cho hội viên ngày càng tích cực hơn. Xu hướng xã hội hoá các công việc của nhà nước phát triển mạnh nên công việc của nhà nước dần dần được chuyển sang cho xã hội, nhờ vậy càng tăng thêm tính tự quản của xã hội, tạo điều kiện cho xã hội dân sự hình thành, phát triển, đưa nền dân chủ phát triển lên trình độ cao.

Trên đây là những đặc trưng cơ bản của nhà nước pháp quyền, những đặc trưng này cũng thể hiện những giá trị to lớn của nhà nước pháp quyền nói chung. Bên cạnh những đặc trưng nêu trên, tùy điều kiện kinh tế - xã hội riêng có của mình, mỗi nhà nước pháp quyền cụ thể có thể có những nét đặc thù. Mặc dù, tư tưởng nhà nước pháp quyền có tính toàn nhân loại, tuy nhiên sự tiếp thu và vận dụng vào việc tổ chức và hoạt động của mỗi nhà nước có thể có những nét khác biệt, điều đó phụ thuộc vào lợi ích xã hội, lợi ích của lực lượng cầm quyền, truyền thống dân tộc, trình độ dân trí, lối sống trong xã hội... Trên thực tế đã tồn tại quan niệm nhà nước pháp quyền tư sản và nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Hiện nay, nhà nước pháp quyền đang được tuyên bố xây dựng ở hầu hết các quốc gia phát triển và đang phát triển.

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)

>> Xem thêm:  Hệ thống chính trị là gì ? Đặc điểm của hệ thống chính trị ?