1. Mục tiêu chính sách pháp luật trên thế giới

Hiện nay, trong sách báo nước ngoài người ta đưa ra các mục tiêu khác nhau của chính sách pháp luật.

Chẳng hạn, các mục tiêu đó là: ưu tiên các quyền bẩm sinh của con người, sở hữu tư nhân và sự tối thượng của xét xử; tuân thủ và bảo vệ các quyền và tự do của cá nhân; thực hiện các lợi ích của cá nhân, xã hội và nhà nước; xây dựng Nhà nước pháp quyền; phòng thủ, bảo vệ Tổ quốc; phi tội phạm hóa các quan hệ xã hội,... (theo A.v. Mal'ko, V.A. Zatonskij: Chính sách pháp luật: Những cơ sở lý luận và thực tiễn: Tốhợp phương pháp giảng dạy, Sđd, tr.167-168 (bản tiếng Nga).

Các mục tiêu của chính sách pháp luật ở từng quốc gia được xác định căn cứ vào các điều kiện lịch sử cụ thê’ của từng quốc gia, trong đó có tính đặc thù trong đời sống pháp luật ở quốc gia đó. Các mục tiêu của chính sách pháp luật của các quốc gia khác nhau có những đặc điểm tương đồng và những đặc điểm khác biệt.

2. Mục tiêu của chính sách pháp luật - mô hình lý tưởng về trạng thái nhất định của đời sống pháp luật

Mục tiêu của chính sách pháp luật - đó là mô hình lý tưởng về trạng thái nhất định của đời sống pháp luật - mô hình đạt được với sự trợ giúp của các biện pháp tương ứng. Mô hình - đó chỉ là hình dáng của hiện thực, hình dáng hoàn toàn không thể sản xuất ra các nguyên bản mà chỉ phản ánh những dấu hiệu, những yếu tố cơ bản của nó mà thôi.

- Nghị quyết số 48-NQ/TW nêu rõ mục tiêu của xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật là: xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, trọng tâm là hoàn thiện thê’ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; đổi mới căn bản cơ chế xây dựng và thực hiện pháp luật; phát huy vai trò và hiệu lực của pháp luật đê’ góp phần quản lý xã hội, giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh, thực hiện quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân, góp phân đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020.

- Nghị quyết số 49-NQ/TW chỉ rõ mục tiêu của cải cách tư pháp là: xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tô’ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao.

- Nghị quyết số 48-NQ/TW và số 49-NQ/TW đã nêu một cách khái quát ở phương diện chính trị các mục tiêu của chính sách pháp luật Việt Nam.

3. Mục tiêu lâu dài của chính sách pháp luật Việt Nam

Các mục tiêu tổng quát lâu dài của chính sách pháp luật Việt Nam gắn liền với các giá trị chính trị và pháp lý cao nhất - đó là bảo đảm, bảo vệ đầy đủ nhất quyền con người, quyền công dân; xây dựng riền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phát triển; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; xây dựng xã hội dân chủ pháp quyền; xây dựng nền văn hóa pháp luật, tức là hướng đến chất lượng mới của đời sống pháp luật trong xã hội Việt Nam.

Phạm trù "chất lượng cuộc sống", một mặt, là đặc điểm về chất mang tính tích phân của sự bảo đảm cuộc sống, của hoạt động sống và của năng lực sống của xã hội, về việc thực hiện có hiệu quả các chức năng xã hội, tinh thần và sinh học của xã hội. Mặt khác, chất lượng cuộc sống là chỉ số phản ánh trình độ của việc đạt được một cách cân bằng tất cả các yếu tố về tiêu chuẩn cuộc sống của con người, tiêu chuẩn được phân lớn các thành viên của xã hội xác định trên cơ sở cân nhắc trình độ phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia và các quan niệm cá nhân về ý nghĩa của cuộc sống. Chất lượng cuộc sống cao là sự chứng minh về việc tạo dựng các điều kiện cho việc đạt được mưc độ phù hợp cao với tiêu chuẩn của cuộc sống đã được phần lớn dân cư xác định trên cơ sở đồng thuận cao với việc lựa chọn tiêu chuẩn của cuộc sống đã được xác định. Thuật ngữ "chất lượng cuộc sống" bao gồm không chỉ mức độ thu nhập, mà còn cả sự hiện có các ưu đãi, mức độ bảo đảm an ninh nói chung, an ninh pháp luật nói riêng, chất lượng bảo vệ sức khỏe, giáo dục, dịch vụ công cộng, giao thông và thông tín, trạng thái môi trường xung quanh, sự tiếp cận với các thành tựu văn hóa và ngay cả cảm giác về giá trị cá nhân trong xã hội. Trong giai đoạn phát triển hiện nay của xã hội chúng ta, mục tiêu của sự phát triển không phải là số lượng mà là chất lượng, trong đó trọng tâm là chất lượng của con người, chất lượng cuộc sống của con người.

Hơn nữa, các chỉ số của chất lượng cuộc sống của công dân có thể được dùng làm cơ sở để xác định hiệu quả hoạt động của chính quyền với tư cách là tiêu chuẩn về công việc của các cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương mà về việc không đạt được một cách thỏa đáng tiêu chuẩn đó các cơ quan nhà nước phải chịu trách nhiệm. Để trách nhiệm không phải là trừu tượng, chung chung mà phải trở thành hiện thực, cần phải quy định trong pháp luật hệ thống các chỉ số về chất lượng cuộc sống của con người mà vì chúng các cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và chính quyền địa phương có trách nhiệm bảo đảm, công bố và báo cáo hàng năm trước Nhân dân về các thành quả công tác của mình. Nhân dân và các cơ quan có thẩm quyền khi đưa ra đánh giá hoạt động của những cán bộ lãnh đạo cần phải dựa vào kết quả đạt được các chỉ số đó. về mặt hiện thực, đã đến lúc cần phải đánh giá hoạt động của các cơ quan quyền lực nhà nước theo chất lượng cuộc sống của Nhân dân.

Chất lượng - đó là phạm trù khoa học nền tảng được sử dụng để xem xét tất cả các mặt của thế giới, của chế độ xã hội và hoạt động của con người. Do đó, nó có nội dung triết học và cho phép nhận thức sâu sắc hơn bản chất của các quá trình lãnh tế - xã hội, đạo đức - tinh thần và chính trị - pháp luật đang diễn ra trong xã hội.

Với tư cách là một lĩnh vực của đời sống xã hội, đời sống pháp luật cũng có các chỉ số chất lượng của mình. Chất lượng đời sống pháp luật, cũng như chất lượng của cuộc sống nói chung, là khái niệm mang tính hệ thống đặc trưng cho kết quả cuối cùng, trước hết, là chất lượng công việc của các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp.

4. Bàn luận về mục tiêu chính sách pháp luật Việt Nam; Chất lượng của đời sống pháp luật

Chất lượng của đời sống pháp luật là tổng thể các thuộc tính cơ bản của hoạt động pháp luật. Các thuộc tính đó tạo thành các tiền đề cần thiết để bảo vệ về mặt pháp lý cho các lợi ích của các chủ thể của pháp luật, cho việc tăng cường tính bảo đảm của các hình thức khác của đời sống xã hội (đời sống kinh tế, đời sống chính trị, đời sống văn hóa...), cho việc nâng cao trình độ phát triêh pháp luật của xã hội. Các điều kiện của việc nâng cao chất lượng của đời sống pháp luật là những nhân tố tác động một cách tích cực đến mức độ tiến bộ của pháp luật, hiệu quả của cơ chế điều chỉnh pháp luật, tính ổn định và tính liên tục trong quy định, trong các văn bản quy phạm pháp luật và trong việc thực hiện trên thực tế các quyền và tự do của con người và của công dân. Đời sống pháp luật có chất lượng tạo ra những khả năng pháp lý như nhau cho việc bảo đảm các lợi ích của cá nhân, xã hội, Nhà nước, cho việc khơi thông, thực hiện các nguồn lực, sức mạnh tính thần của mọi người, năng lượng và các khát vọng của họ. Cái lõi xuyên suốt toàn bộ đời sống pháp luật là các quyền và tự do của con người và của công dân. Chính việc ghi nhận các quyền đó trong Hiến pháp và pháp luật, việc thực hiện trên thực tế và việc bảo vệ chúng bằng Tòa án một cách có giá trị đầy đủ nhất là một trong những chỉ số quan trọng nhất của chất lượng đời sống pháp luật. Thái độ của các chủ thể đối với pháp luật được thê’ hiện ở chính mức độ làm thỏa mãn các lợi ích của cá nhân ở trình độ quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp.

Tất nhiên, chất lượng của đời sống pháp luật không chi tùy thuộc vào các cơ quan quyền lực mà còn tùy thuộc vào các cấu trúc xã hội và vào chính cá nhân.

Khi nói về các cơ quan quyền lực nhà nước thì có thể khẳng định rằng, tất cả các loại cơ quan quyền lực nhà nước đều có đóng góp vào việc nâng cao chất lượng của đời sống pháp luật. Chẳng hạn, các cơ quan thực hiện quyền lập pháp đóng góp vào việc nâng cao chất lượng của đời sống pháp luật bằng cách ban hành các đạo luật có chất lượng, các cơ quan thực hiện quyền hành pháp đóng góp vào việc nâng cao chất lượng của đời sống pháp luật bằng cách tô’ chức thực hiện pháp luật có chất lượng, các cơ quan thực hiện quyền tư pháp đóng góp vào việc nâng cao chất lượng của đời sống pháp luật bằng cách tiến hành hoạt động xét xử và các hoạt động khác theo thẩm quyền có chất lượng.

Ở trình độ toàn bộ hệ thống pháp luật, khái niệm chất lượng của đạo luật là phạm trù liên kết, bao gồm các chỉ số chất lượng của các bộ phận cấu thành nó. Đồng thời, khái niệm đó được làm phong phú, giàu có thêm bằng nhiều luận điểm đặc trưng cho hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật với tư cách là cái chỉnh thể. Trong số đó có việc tuân thủ ở phạm vi hệ thống nguyên tắc pháp chế, theo đó, các đạo luật cần phải phù hợp với các quy định của Hiến pháp, còn các pháp lệnh và các văn bản quy phạm pháp luật dưới luật khác phải phù hợp với các quy phạm của các đạo luật. Chỉ số quan trọng nhất của chất lượng của đạo luật ở trình độ hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật là sự tổ chức hợp lý bên trong của nó. Sự tổ chức đó bao gồm nhiều yếu tố. Yếu tố đầu tiên trong các yếu tố đó là sự phân bố phù hợp tài liệu quy phạm giữa các ngành pháp luật trên cơ sở cân nhắc đặc trưng về đối tượng và phương pháp điều chỉnh của chúng vói các nhu cầu phát triển các quan hệ xã hội trong điều kiện hiện nay. Yếu tố thứ hai là tính phối hợp chặt chẽ và sự tác động lẫn nhau của các ngành pháp luật và các tiểu ngành pháp luật tổng hợp tương ứng với các ngành pháp luật, gắn bó với các ngành pháp luật. Từ đây cho thấy, cần phải tuân thủ nghiêm khắc các đòi hỏi của Hiến pháp và phân biệt thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo nội dung giữa các cơ quan lập pháp với các cơ quan hành pháp, giữa các cơ quan trung ương với các cơ quan địa phương.

Uy tín của các cơ quan quyền lực, đặc biệt của Quốc hội phụ thuộc trực tiếp và trước hết vào chất lượng của các đạo luật do Quốc hội thông qua, vào tính có kết quả của các đạo luật đó, vào sự tác động của chúng đến đời sống của công dân Việt Nam, đến sự phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa, chính trị của nước ta nói chung và của từng vùng, địa phương cụ thể nói riêng.

Tuy vậy, không phải bao giờ các cơ quan lập pháp cũng thông qua được các đạo luật có chất lượng. Ở đây còn không ít nguồn lực chưa được khai thác. Thực tiễn cho thấy, có nhiều đạo luật được thông qua hơi vội vàng, hoặc chưa phản ánh được một cách khách quan các nhu cầu, các lợi ích xã hội, hoặc vì lợi ích cục bộ ngành, lĩnh vực. Trong xây dựng pháp luật chưa sử dụng dầy đủ cách tiếp cận hệ thống và khoa học và do vậy các đạo luật được thông qua chưa bảo đảm chất lượng. Có tình trạng các văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan hành pháp ở trung ương, các cơ quan có thẩm quyền ở địa phương ban hành trái với các văn bản luật hoặc văn bản quy phạm pháp luật của trung ương. Thực trạng này cho thấy những thay đổi mong đợi từ xã hội sau khi một đạo luật được ban hành diễn ra một cách chậm chạp hơn so với pháp luật thực định.

Nâng cao chất lượng của tính đại diện cho Nhân dân là một yếu tố nâng cao chất lượng của đời sống pháp luật của xã hội Việt Nam nói chung. Hiện nay, chất lượng của tính đại diện cho Nhân dân ở nước ta ngày càng được cải thiện, nâng cao trong các quan hệ xã hội hiện thực, nhưng dẫu sao vẫn chưa đáp ứng được sự mong đợi của Nhân dân.

Thực tiễn cho thấy, các cơ quan thực hiện quyền hành pháp ban hành một khối lượng văn bản quy phạm pháp luật rất lớn, nhưng không phải khi nào cũng ban hành được các văn bản quy phạm pháp luật có chất lượng. Hơn nữa, trong nhiều trường hợp, những nỗ lực của các cơ quan đó lại làm giảm vai trò của đạo luật trong xã hội. Hệ thống các tài liệu, văn bản mang tính mâu thuẫn và mang nặng lợi ích ngành, lĩnh vực thường triệt tiêu, vô hiệu hóa các quy định của các đạo luật. Vân đề áp dụng pháp luật hiện nay là một trong những vâh đề quan trọng trong nâng cao chất lượng của đời sống pháp luật ở xã hội Việt Nam, nhưng vẫn chưa được quan tâm đầy đủ ở tầm chính sách pháp luật.

Các cơ quan thực hiện, tham gia thực hiện quyền tư pháp đóng vai trò đặc biệt trong việc nâng cao chất lượng của đời sống pháp luật. Bàn đến hoạt động của các cơ quan này thì thực tiễn cho thấy ở đây tình hình cũng rất báo động. Chẳng lẽ, có thể coi xét xử là có chất lượng, nếu như công dân không tin tưởng vào sự công bằng của Tòa án, nếu như có nhiều vi phạm quyền con người, quyền công dân từ phía các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án. Ở một số nước trên thế giới đã tiến hành các nghiên cứu về chất lượng hoạt động của tòa án nói chung, về chất lượng xét xử và chất lượng của hoạt động điều tra, hoạt động truy tố và hoạt động thi hành án với tư cách là các chỉ số về chất lượng của đời sống pháp luật. Trong điều kiện hiện nay, khoa học pháp lý nước ta cần đặt ra và tiến hành các nghiên cứu tương tự như vậy để làm cơ sở cho việc hoàn thiện chính sách pháp luật Việt Nam.

Chính các công dân, hoạt động pháp luật tích cực của họ được thể hiện ở sự tham gia sáng tạo của cá nhân vào việc giải quyết những vấn đề pháp lý, ở mức độ sử dụng các phương tiện pháp luật để đạt được các mục tiêu của mình đóng vai trò rất lớn trong việc nâng cao chất lượng của đời sống pháp luật. Trạng thái chất lượng của đời sống pháp luật cũng được thể hiện ở trình độ văn hóa pháp luật, ở mức độ phát triển ý thức pháp luật của con người, ở nhịp độ xã hội hóa pháp luật của nó.

Do đó, mục tiêu chủ yếu của chính sách pháp luật Việt Nam hiện nay là nâng cao chất lượng của đời sống pháp luật, mà trung tâm của nó là bảo đảm đầy đủ nhất các quyền và tự do của con người và của công dân.

Bởi vậy, hoàn toàn đúng đắn khi nói rằng, mục tiêu chung của chính sách pháp luật Việt Nam cần phải dựa trên các giá trị như: tính mạng, tự do, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người, công bằng, an ninh, trật tự và hỗ trợ cho việc thể hiện các giá trị đó trong đời sống pháp luật. Điều đó cũng có nghĩa rằng, mục tiêu cơ bản của chính sách pháp luật trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là hỗ trợ cho việc đạt được sự đồng thuận của công dân trong xã hội trên cơ sở khẳng định và bảo đảm các quyền và lợi ích họp pháp của con người và của công dân, không vi phạm các quyền và tự do của những người khác, cũng như cơ sở đạo đức của xã hội. Cái lõi của chính sách pháp luật Việt Nam là hoạt động công nhận, ghi nhận, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ các quyền và tự do của con người và của công dân. Về vấn đề này khoản 1 Điều 14 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật.

5. Kết thúc vấn đề

Cần phải hiểu rằng, các quá trình phát triển xã hội diễn ra không theo một hướng, các quá trình đó có tính chu trình: ổn định, phát triển, khủng hoảng, các trạng thái chuyển đổi của kinh tế và của lĩnh vực xã hội.

Do đó, khủng hoảng kinh tế - xã hội với tư cách là một trong những giai đoạn của sự phát triển chung của xã hội, không làm ngừng sự chuyển động đến các mục tiêu chiến lược đã được đề ra về việc xây dựng các tiền đề kinh tế để bảo đảm các điều kiện xứng đáng đối với cuộc sống của con người và sự phát triêh của cá nhân, của sự tự do chính trị và kinh tế, sự tăng trưởng phúc lọi của công dân, sự bảo vệ di sản nhân đạo và lịch sử của đất nước.

Các mục tiêu chung đó tạo thành nền tảng của chính sách pháp luật dài hạn, xác định các định hướng cơ bản của việc hoàn thiện pháp luật nước ta.

Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê sưu tầm và biên soạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê (Sưu tầm và Biên soạn).