1. Mọi cá nhân, pháp nhân đều bình đẳng.

Nguyên tắc 1: Mọi cá nhân, pháp nhân đều bình đẳng, không được lấy bất kỳ lý do nào để phân biệt đối xử; được pháp luật bảo hộ như nhau về các quyền nhân thân và tài sản.

Quy định tại khoản 1 Điều 3 Bộ luật dân sự 2015 đã cụ thể hóa các quy định Hiến pháp năm 2013 về các quyền cơ bản của công dân, gồm: quyền tự do, bình đẳng về nhân thân và tài sản của cá nhân và một cơ chế bảo hộ như nhau không có sự phân biệt đối xử. Nghĩa là, đã là chủ thể trong các quan hệ dân sự đều có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong quá trình xác lập, thực hiện hoặc giải quyết tranh chấp (nếu có), không có bất kỳ sự phân biệt nào trong các quan hệ dân sự nhân thân và tài sản.

Bình đẳng có nghĩa là: "ngang hàng nhau về địa vị và quyền lợi". Quyền bình đẳng là một thuật ngữ pháp lý thể hiện sự pháp luật hóa quyền tự nhiên của con người.

Quyền bình đẳng được ghi nhận trong Hiếp pháp 2013 và nhiều văn bản pháp luật khác.

Điều 16 Hiến pháp 2013 quy định:

1. Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật.

2. Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội.

Trong quan hệ dân sự, bản chất là bình đẳng về quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm trong xác lập, thực hiện quan hệ dân sự. Bình đẳng và không phân biệt đối xử nhằm mục đích đảm bảo công bằng xã hội, hạn chế đặc quyền, đặc lợi và sự cạnh tranh không lành mạnh, bảo vệ các bên yếu thế. Khi không có sự bình đẳng, các giao dịch dân sự có thể bị coi là vô hiệu, ví dụ như giao dịch dân sự vô hiệu khi một bên không tự nguyên, một bên là người mất năng lực hành vi dân sự. Theo Điều 127 Bộ luật dân sự 2015 quy định:

"Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa, cưỡng ép thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.

>> Xem thêm:  Nguyên tắc có đi có lại là gì ? Phân tích nguyên tắc có đi có lại trong quan hệ quốc tế

Lừa dối trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó."

Ngoài ra, vấn đề bình đẳng được quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác như:

Luật hôn nhân và gia đình: "Vợ, chồng bình đẳng với nhau, có quyền, nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt trong gia đình, trong việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ của công dân được quy định trong Hiến pháp, Luật này và các luật khác có liên quan."

2. Tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận.

Nguyên tắc thứ hai: Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận. Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cẩm của luật, không trải đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đổi với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng.

Tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận là tiêu chí quan trọng để các chủ thể của quan hệ dân sự xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình.

Tự do, tự nguyện được hiểu là không có sự ép buộc, lừa dối, xuất phát từ ý chí cá nhân, không phụ thuộc vào ý chí củ người khác. Yếu tố tự nguyện rất quan trọng trong quan hệ dân sự. Theo quy định tại Điều 117 Bộ luật dân sự thì yếu tố tự nguyện là một điều kiện để giao dịch dân sự có hiệu lực.

Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;

b) Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;

c) Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

>> Xem thêm:  Luật sư tư vấn khởi kiện vụ án dân sự, đại diện tranh tụng tại Toà án

Khi xác lập, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự, các bên phải hoàn toàn tự do về ý chí, không bị ép buộc, đe dọa. Nếu bị đe dọa, ép buộc thì giao dịch dân sự đó sẽ bị vô hiệu theo Điều 127 Bộ luật dân sự 2013.

Điều 127. Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép

Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa, cưỡng ép thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.

Lừa dối trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó.

Đe dọa, cưỡng ép trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch dân sự nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của người thân thích của mình.

Trong pháp luật dân sự, các chủ thể có quyền tự do thỏa thuận dù chưa được pháp luật dân sự quy định, nhưng “mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng”. Vì vậy, mặc dù BLDS năm 2015 không có quy định, không dự liệu... nhưng các chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự vẫn có thể thỏa thuận với nhau và vẫn có sự ràng buộc pháp lý. Sự ràng buộc này vẫn được pháp luật dân sự công nhận; quyền và nghĩa vụ của các bên vẫn được pháp luật bảo đảm thực hiện.

3. Xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình một cách thiện chí, trung thực.

Nguyên tắc 3: Cá nhân, pháp nhân phải xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình một cách thiện chí, trung thực.

"Thiện chí": ý định, suy nghĩ tốt và luôn thực lòng mong muốn đi đến kết quả tốt khi giải quyết việc gì.

"Trung thực": là luôn tôn trong sự thật, tôn trọng chân lí, lẽ phải, nhẫn lội khi mắc khuyết điểm.

Như vậy khi xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự của mình thì cá nhân cũng như pháp nhân phải có suy nghĩ tích cực, luôn hướng đến việc tốt cho cả hai bên, hai bên cùng có lợi, luôn tạo điều kiện cho nhau. Luôn tôn trọng lẽ phải, thực hiện đúng nghĩa vụ của mình, nếu vi phạm phải nhận lỗi và bồi thường nếu có thiệt hại.

Thiện trí, trung thực là một trong những truyền thống đạo đức là trong quan hệ xã hội; không gian dối và có thiện chí thực hiện đúng, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ mà chủ thể đã cam kết. Do đặc trưng của giao lưu dân sự nên trước đây BLDS năm 1995 còn có quy định: các giao dịch dân sự đã xác lập luôn được suy đoán là thiện chí, trung thực. Vì vậy, nếu một bên cho rằng bên kia không trung thực, thiện chí thì phải đưa ra được chứng cứ, bằng chứng để chứng minh tính chất không trung thực, thiện chí đó. Hiện tại, Điều 6 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 vẫn quy định: việc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự là quyền và nghĩa vụ của các đương sự. Nhưng nội dung này hiện không còn được ghi nhận trong BLDS năm 2015.

4. Không được xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.

Nguyên tắc 4: Việc xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự không được xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.

Quyền của con người luôn được tôn trọng, bảo vệ và đảm bảo. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp thì phải có sự giới hạn vì lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích của người khác. Điều 3 BLDS năm 2015 đã quy định rõ giới hạn “không được xâm phạm”. Nghĩa là, trong quan hệ dân sự (bao gồm cả việc xác lập, thực hiện) vì lợi ích của một chủ thể mà làm ảnh hưởng hoặc xâm phạm đến “lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích họp pháp của người khác” thì quan hệ dân sự đó không được pháp luật dân sự công nhận, bảo hộ.

Như vậy, việc xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự không phải tùy ý, theo đúng nhưng mong muốn của các chủ thể mà chỉ trong trường hợp không xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Nếu Việc xác lập , thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác thì buộc phải chấm dứt hành vi hoặc thỏa thuận đó xẽ vô hiệu. Do các quan hệ dân sự phong phú, đa dạng nên pháp luật dân sự cho phép các chủ thể trong quá trình xác lập, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ dân sự có thể cam kết, thỏa thuận những nội dung mà BLDS không có quy định nhưng không được trái với các nguyên tắc cơ bản của BLDS; không làm thiệt hại hoặc ảnh hưởng đến lợi ích nhà nước, lợi ích công cộng hoặc quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.

>> Xem thêm:  So sánh sự phát triển chế định quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân qua các bản hiến pháp của Việt Nam

5. Tự chịu trách nhiệm về việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự.

Nguyên tắc 5: Cá nhãn, pháp nhân phải tự chịu trách nhiệm về việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự.

Trách nhiệm việc mà mỗi người phải làm và phải có ý thức với những việc làm đó. ...

Trách nhiệm dân sự là trách nhiệm pháp lí mang tính tài sản được áp dụng đối với người vi phạm pháp luật dân sự nhằm bù đắp về tổn thất vật chất, tinh thần cho người bị hại. Trách nhiệm dân sự bao gồm buộc xin lỗi, cải chính công khai, buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự, buộc bồi thường thiệt hại, phạt vi phạm.

Có thể thấy, BLDS là bộ “luật tư” gắn liền với trách nhiệm của các chủ thể (chủ yếu là trách nhiệm tài sản), nên nguyên tắc đặc trưng là chủ thể trong quan hệ dân sự phải tự chịu trách nhiệm về việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự do chính chủ thể đã xác lập. Vấn đề tự chịu trách nhiệm dân sự có thể do pháp luật quy định hoặc do các bên thỏa thuận khi xác lập các giao dịch dân sự.

Tự chịu trách nhiệm dân sự là cơ sở để các chủ thể thực hiện nghiêm chỉnh mọi quan hệ dân sự đã được xác lập. Khi có một bên trong giao dịch dân sự không thực hiện, thực hiện không đúng hoặc không đầy đủ các điều khoản mà chủ thể đó đã tự nguyện cam kết, thỏa thuận, thì họ phải tự chịu trách nhiệm dân sự trước bên có quyền bị vi phạm.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Nghĩa vụ công dân là gì ? Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân theo hiến pháp năm 2013

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Thế nào là trách nhiệm dân sự?

Trả lời:

Trách nhiệm dân sự là trách nhiệm pháp lí mang tính tài sản được áp dụng đối với người vi phạm pháp luật dân sự nhằm bù đắp về tổn thất vật chất, tinh thần cho người bị hại. Trách nhiệm dân sự bao gồm buộc xin lỗi, cải chính công khai, buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự, buộc bồi thường thiệt hại, phạt vi phạm.

Câu hỏi: Đặc điểm của trách nhiệm dân sự?

Trả lời:

- Là hậu quả pháp lý của hành vi vi phạm, chỉ được áp dụng khi có hành vi vi phạm pháp luật và chỉ áp dụng đối với người có hành vi vi phạm đó.

- Là một hình thức cưỡng chế của nhà nước và do cơ quan có thẩm quyền của nhà nước áp dụng.

- Luôn mang dến một hậu quả bất lợi cho người có hành vi vi phạm.

Ngoài những đặc điểm chung của trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm dân sự còn mang những đặc điểm riêng như sau:

- Căn cứ phát sinh trách nhiệm dân sự là hành vi vi phạm luật dân sự hoặc vi phạm hợp đồng (đó là việc không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ của người có nghĩa vụ dân sự).

- Trách nhiệm dân sự mang tính tài sản. Đây chính là đặc điểm cơ bản của trách nhiệm dân sự. Do đó, trách nhiệm dân sự của người vi phạm bao giờ cũng là sự bù đắp cho bên vi phạm những lợi ích vật chất nhất định.

Câu hỏi: Thế nào là bình đẳng?

Trả lời:

Bình đẳng trước pháp luật là những nguyên lý của pháp quyền được thể hiện qua các quy định cụ thể (các quy phạm pháp luật thiết lập về quyền được đối xử một cách như nhau, công bằng giữa mọi công dân trước pháp luật, theo đó, mọi công dân, nam, nữ thuộc các dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội khác nhau trong một quốc gia đều không bị phân biệt đối xử trong việc hưởng quyền, nghĩa vụ và chịu trách nhiệm pháp lí theo quy định của pháp luật.