1. Các nguyên tắc liên quan đến pháp quyền
Một nguyên tắc nữa mà hầu hết các nền dân chủ hiện đại đều đề cập đến trong hiến pháp là pháp quyền. Pháp quyền đòi hỏi rằng các luật thành văn đầy đủ và dễ tiếp cận, dù là hiến pháp hay là luật, phải định hướng các quyết định và hành động của chính quyền. Hơn thế, chính quyền phải áp dụng luật một cách bình đẳng và phù hợp với mọi người, bao gồm cả thành viên chính phủ và tất cả mọi người đều có quyền tiếp cận công lý và thực thi pháp luật. Do vậy, cam kết về pháp quyền đòi hỏi sự đấu tranh mạnh mẽ chống lại tham nhũng chính trị và lạm dụng quyền lực, những điều có thể làm tổn hại xã hội và chính phủ cả về chính trị, kinh tế và xã hội. Một quan niệm về pháp quyền được ghi nhận rộng rãi, có tính thực tiễn hơn là một vấn đề lý thuyết còn bao gồm cả yếu tố của công lý. Theo đó, ngoài việc luật phải dự đoán được, có thể tiếp cận được và được áp dụng như nhau, pháp quyền đòi hỏi phải có hệ thống pháp luật công bằng. Hơn thế, pháp quyền đòi hỏi không chỉ tuân thủ luật và ban hành luật một cách hợp pháp, nó còn bao gồm cả sự bình đẳng và quyền con người. không phân biệt giữa các tầng lớp xã hội. Nhiều hiến pháp thể hiện trực tiếp cam kết về nguyên tắc pháp quyền. Hiến pháp có thể thúc đẩy pháp quyền theo một số cách, chủ yếu là thông qua khung pháp luật nhất quán. Học thuyết về tính tối cao của hiến pháp, tài phán hiến pháp, các cơ quan giám sát độc lập sẽ tạo nên khung pháp luật đó. Đảm bảo việc thực thi các bảo đảm trong hiến pháp cũng là yếu tố nền tảng. Nhiều hiến pháp có các điều khoản thể hiện tính tối cao của Hiến pháp. Ví dụ như Hiến pháp Rwanda trong Lời nói đầu và có một điều riêng tuyên bố về tính tối cao của Hiến pháp. Bất kỳ luật nào xung đột với hiến pháp đều vô hiệu. Hiến pháp Thái Lan có điều khoản ghi nhận rằng bất kỳ luật nào cũng sẽ bị tuyên vô hiệu nếu không phù hợp với hiến pháp. Tính tối cao bảo vệ các cơ chế pháp quyền như các cấu trúc pháp lý, kiểm tra và đối trọng và đảm bảo các quyền con người.
2. Hiến pháp cũng bảo tồn các nguyên tắc và giá trị căn bản
Hiến pháp cũng bảo tồn các nguyên tắc và giá trị căn bản bằng cách làm cho quy trình sửa đổi Hiến pháp trở nên ngặt nghèo. Tiêu chuẩn cao hơn đối với sửa đổi hiến pháp quá trình thông qua luật thông thường sẽ ngăn chặn những thay đổi vội vã trong đạo luật cơ bản. Theo nhiều hiến pháp, ví dụ như của Braxin, bất kỳ sự thay đổi nào cũng cần sự ủng hộ của đại đa số. Các hiến pháp khác cũng bảo vệ tính trường tồn của một số nguyên tắc và giá trị khỏi quá trình sửa đổi. Ví dụ như Hiến pháp của Đức bảo vệ một số nguyên tắc, bao gồm cam kết về quyền con người, dân chủ và sự phân chia quyền lực. Pháp quyền không chỉ cần những nguyên tắc được bảo vệ; thay vào đó, những điều khoản được bảo vệ chỉ là một trong vô số cách hiến pháp đảm bảo pháp quyền. Những hiến pháp quy định đầy đủ và có những điều khoản cụ thể hơn có thể được hưởng lợi từ quy trình sửa đổi ít ngặt nghèo hơn trong một số lĩnh vực, tạo điều kiện cho sự phát triển và hoàn thiện theo thời gian. Mặt khác, các hiến pháp ngắn hơn có thể hưởng lợi từ những tiêu chuẩn sửa đổi cao hơn vì có thể bảo vệ các quyền và nguyên tắc căn bản. Do nhánh tư pháp áp dụng luật vào từng vụ việc riêng lẻ, nên có thể đóng vai trò là người bảo vệ pháp quyền. Vì vậy, một nhánh tư pháp độc lập và vận hành đúng đắn sẽ tạo ra tiền đề cho pháp quyền. Pháp quyền cũng đòi hỏi quyền được xét xử công bằng và tiếp cận công lý. Thủ tục tư pháp, bao gồm cả tài phán hiến pháp, đảm bảo rằng các nhánh của chính phủ đều phải tuân thủ pháp quyền. Chương 6 của cuốn sách này sẽ tập trung vào nhánh tư pháp và xem xét nội dung này cụ thể hơn. Pháp quyền cũng liên quan chặt chẽ đến cuộc chiến chống tham nhũng. Tăng cường tính minh bạch trong các cơ quan và các nhánh chính quyền, đảm bảo tính độc lập của cơ quan giám sát tham nhũng như báo chí và các tổ chức xã hội dân sự, và thành lập cơ quan chuyên trách chống tham nhũng – là những biện pháp giảm tham nhũng hiệu quả. Cơ chế kiềm chế và đối trọng giữa các nhánh của chính quyền cũng góp phần chống tham nhũng bằng cách khi các nhánh và cơ quan giám sát lẫn nhau.
3. Các nguyên tắc liên quan đến tính đa dạng
Bối cảnh hậu xung đột thường đòi hỏi các nguyên tắc hiến pháp đề cập đến tính chất đa dạng của xã hội và phát triển được khái niệm bản sắc. Nguyên tắc về sự đa dạng và bản sắc đặc biệt quan trọng ở một quốc gia bị chia rẽ bởi các nhóm dân tộc và tôn giáo. Tuy nhiên, chưa có sự thống nhất về việc hiến pháp nên đề cập đến tính đa dạng như thế nào, và vẫn còn nhiều quan niệm khác nhau ảnh hưởng đến cả nội dung của hiến pháp cũng như sự vận hành của chính phủ. Một cách tiếp cận là xuất phát từ quy tắc ghi nhật tính đa dạng, mặc dù các tiếp cận này không xem những quy tắc đó là yếu tố quyết định trong điều hành đất nước. Mối quan tâm ở đây tập trung vào việc xây dựng khối thống nhất hơn là trao quyền cho các nhóm dựa vào các đặc tính riêng của họ. Các quy tắc này nhấn mạnh rằng chính phủ nên dàn xếp sự khác biệt bằng cách nhấn mạnh vào bản sắc chung hơn là phân biệt. Từ góc độ đó, cũng có quan điểm cho rằng nên đảm bảo sự bình đẳng giữa các nhóm thông qua các chính sách như không phân biệt đối xử. Đặc biệt với xu hướng tập quyền – điều có thể đe dọa các nhóm thiểu số hoặc các nhóm yếu thế ít có khả năng tiếp cận quyền lực - khái niệm về tính đa dạng cần có nhiều bảo đảm pháp lý để bảo vệ sự bình đẳng. Một đạo luật về các quyền và cơ chế giám sát như của nhánh tư pháp có thể là những bảo đảm như thế.
4. Đảm bảo một số quyền hoặc quyền lực cho từng nhóm đặc thù
Cách tiếp cận thứ hai cho rằng, các quy phạm không chỉ cần thừa nhận tính đa dạng mà còn đảm bảo một số quyền hoặc quyền lực cho từng nhóm đặc thù. Các quy tắc này thường thúc đẩy việc phân chia quyền lực hơn là tập trung, cho các khu tự trị hoặc chính quyền địa phương nhiều quyền hơn. Canada đã áp dụng cách tiếp cận này và cho phép mức độ tự trị nhất định trên cơ sở dân tộc, tạo thành cơ chế phân quyền bất đối xứng. Phân quyền bất đối xứng chia sẻ quyền lực không bình đẳng hoặc khác nhau giữa chính quyền các vùng khác nhau. Điều đó có nghĩa là không phải mọi địa phương hoặc vùng lãnh thổ nắm trong tay quyền lực như nhau. Một vùng có thể có đặc thù riêng và nhu cầu riêng. Do vậy, hiến pháp có thể trao quyền cho khu vực đó – và chỉ khu vực đó thôi – để đáp ứng các nhu cầu trên. Tại Canada, sau phong trào dân tộc tại Quebec, khung hiến pháp đã cho phép phân quyền một số quyền cho Quebec nhưng không cho các vùng khác. Những dàn xếp trong việc chia sẻ quyền lực cũng nằm trong góc độ tiếp cận này của vấn đề, tạo ra một số quyền hoặc quyền lực đặc biệt dựa trên cơ sở là tính đặc thù của các chủ thể liên quan. Ví dụ, tại Bosinia và Herzegovina, Hiến pháp quy định Tổng thống tập thể gồm ba thành viên được bầu, một người Bosinia, một người Croatia và một người Serbia. Mỗi thành viên giữ vai trò chủ tịch theo chế độ luân phiên. Cơ cấu này nhằm đảm bảo sự tham gia và đại diện về mặt chính trị của các nhóm khác nhau trên cơ sở đặc thù của từng nhóm. Các quốc gia khác cũng áp dụng các chính sách về đa ngôn ngữ, hệ thống bầu cử theo tỉ lệ, hoặc cấu trúc chính phủ nhằm thúc đẩy việc các nhóm thiểu số có đại điện – ví dụ như số ghế dành riêng cho nhóm thiểu số hoặc cơ chế số ghế phân bổ theo định mức. Ví dụ, theo Hiến pháp Pakistan, 10 ghế của Quốc hội dành cho những người không theo đạo Hồi. Nhà lập hiến phải sử dụng cả hai cơ chế bảo đảm về chính trị và pháp lý để thúc đẩy tư tưởng về quốc gia đa dạng. Những nỗ lực chính trị có thể dựa vào các nguyên tắc chi phối của Hiến pháp hoặc những chỉ dẫn khác không mang tính bắt buộc. Các đạo luật và các quyết định hành chính tiếp theo sẽ cụ thể hóa ý nghĩa của các điều khoản này và những gì phải quy định tiếp – ví dụ như phân quyền, các quyền con người và bảo đảm có hiệu lực pháp lý, cơ chế bảo vệ cao hơn đối với ngôn ngữ thiểu số thông qua giáo dục. Các nhà lập hiến cũng cần lưu ý rằng các nguyên tắc hiến pháp trừu tượng phải cần đến sự hỗ trợ chính trị, do việc thực thi tư pháp và chính trị sẽ ảnh hưởng đến ý nghĩa của các điều khoản tương ứng trong cuộc sống hàng ngày. Chẳng hạn, Điều 125 của Hiến pháp Iraq đảm bảo “các quyền hành chính, chính trị, văn hóa, giáo dục của các dân tộc khác nhau, như là người Turkomen, Chaldeans, Assyrian và các nhóm người khác”.
5. Bảo đảm trực tiếp và sâu rộng
Mặc dù các điều khoản này có thể được xem như các bảo đảm trực tiếp và sâu rộng, nhưng do thiếu cụ thể nền còn rất nhiều câu hỏi liên quan đến mức độ và cách thức thực thi cho các cơ quan chính trị trong việc ban hành, thực thi các quy định tương ứng trong luật và dưới luật. Nếu không có các quy định do lập pháp ban hành hoặc thiếu giải thích tư pháp, với bản chất mở, các điều khoản sẽ không trách khỏi nghi ngại về việc chúng sẽ được áp dụng như thế nào. Hiến pháp cũng có thể tạo nên một cơ chế pháp lý để điều chỉnh tính đa dạng, thường là dưới dạng các điều khoản rõ ràng và cụ thể đề cập đến sự bình đẳng và quyền được công nhận đặc thù riêng. Cơ chế này cấm các hình thức phân biệt đối xử dựa trên nguồn gốc dân tộc, định hướng giới tính hoặc giới; tạo cơ hội cho các nhóm từng bị chèn ép hoặc yếu thế có các quyền – ví dụ như điều khoản phân biệt đối xử tích cực, các quyền tự do tôn giáo hoặc văn hóa. Các nỗ lực pháp lý bao gồm cả các điều khoản hiến pháp đảm bảo các quyền nhằm gìn giữ giá trị văn hóa – ví dụ nhu bảo đảm việc giáo dục bằng ngôn ngữ bản địa. Các biện pháp kiểm soát pháp lý cũng có thể được ghi nhận trong các điều khoản hiến pháp ghi nhận sự đại diện theo đặc thù riêng, thông qua số ghế dành riêng trong nghị viện chỉ có thể do thành viên các nhóm yếu thế chiếm giữ, hoặc hệ thống phân bổ ghế theo định mức dành một số vị trí chính phủ nhất định cho các nhóm yếu thế.
Luật Minh Khuê ( sưu tầm và biên tập )