1. Trọng tâm của vấn đề bảo vệ quyền con người trong tư pháp hình sự là người bị buộc tội

Ở Việt Nam, việc ghi nhận vai trò của người bị hại trong việc tham gia vào quá trình giải quyết vụ án hình sự (VAHS) cũng như khẳng định địa vị pháp lý và các quyền tố tụng của người bị hại đã được chú ý ngay từ những ngày đầu giành được độc lập. Không thể phủ nhận các thành quả về xây dựng lý luận về bảo vệ quyền con người cũng như thực tiễn bảo đảm quyền con người (trong đó có quyền của người bị hại) của Đảng và Nhà nước ta. Tuy nhiên, cần phải thừa nhận rằng đến thời điểm năm 2005, khi Nghị quyết 49/NQ-BCT ra đời với Chiến lược cải cách tư pháp thì nhận thức và hành động bảo vệ quyền con người trong hoạt động tư pháp hình sự ở Việt Nam mới được quan tâm thúc đẩy.

Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại, ở Việt Nam trọng tâm của vấn đề bảo vệ quyền con người trong tư pháp hình sự vẫn là người bị buộc tội (người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án). Quyền của người bị hại chưa được Hiến pháp thừa nhận, người bị hại và quyền của họ chỉ được nhắc đến khiêm tốn trong Bộ luật TTHS Việt Nam vối các quy định về quyền và nghĩa vụ của người bị hại (Điều 51), Lời khai của người bị hại (Điều 68), khởi tố theo yêu cầu của người bị hại (Điều 105), sự có mặt của người bị hại tại phiên tòa (Điều 191).

BLTTHS 2003 quy định “Người bị hại là người bị thiệt hại về vật chất, tinh thần hoặc tài sản do tội phạm gây ra”. Đến BLTTHS 2015 thuật ngữ “Người bị hại” trong BLTTHS 2003 đã được thay thế bằng thuật ngữ “Bị hại” trong đó khái niệm bị hại mở rộng hơn đối tượng bao gồm cá nhân và pháp nhân (BLTTHS 2003 quy định chỉ có cá nhân).

Phạm vi của đối tượng được hưởng quyền của bị hại không chỉ giới hạn là những bị hại trực tiếp của tội phạm mà còn được mở rộng ra cả đối tượng khác như: Trường hợp bị hại chết, mất tích, bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì người đại diện thực hiện quyền và nghĩa vụ của người bị hại quy định. Trường hợp cơ quan, tổ chức là bị hại có sự chia, tách, sáp nhập, hợp nhất thì người đại diện theo pháp luật hoặc tổ chức, cá nhân kế thừa quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức đó có những quyền và nghĩa vụ theo quy định (Khoản 5 Điều 62 BLTTHS 2015)

Quyền của bị hại và người đại diện của họ được quy định tại khoản 2 Điều 62 BLTTHS 2015. Ngoài Bộ luật TTHS quy định khá tập trung về quyền của người bị hại, trách nhiệm bảo vệ quyền của người bị hại thì các quy định pháp luật về bảo vệ quyền của người bị hại trong các VAHS còn được quy định rải rác tại các văn bản luật khác.

2. Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự

Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự năm 2004 mặc dù có khẳng định cơ quan điều tra phải có trách nhiệm bảo vệ người làm chứng và người đã tố giác tội phạm nhưng lại không quy định trách nhiệm bảo vệ người bị hại: “Trong phạm vi trách nhiệm của mình, Cơ quan điều tra phải xem xét, giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm, kiến nghị khởi tố, thông báo kết quả giải quyết cho cơ quan, tổ chức đã báo tin, kiến nghị, người đã tố giác tội phạm biết và phải áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ người đã tố giác tội phạm” (khoản 3, Điều 7).

Hiện nay đã có Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015 thay cho pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự năm 2004. Tuy nhiên, tương tự như pháp lệnh trên thì trong Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự 2015 vẫn chưa có quy định về bảo vệ người bị hại:

"Cơ quan Điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động Điều tra có trách nhiệm tiếp nhận, xem xét, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; thông báo kết quả giải quyết cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đã kiến nghị, tố giác, báo tin về tội phạm và phải áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ người đã tố giác tội phạm." (Khoản 3 Điều 12).

3. Luật An ninh quốc gia

Luật An ninh quốc gia năm 2004 quy định: các cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia có trách nhiệm “áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ người cộng tác, người tố giác, người làm chứng, người bị hại trong các vụ án xâm phạm an ninh quốc gia” (điểm h khoản 1, Điều 24).

+ Nghị định số 151/2005/NĐ-CP ngày 14/12/2005 về quyền hạn, trách nhiệm của cơ quan và cán bộ chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia, trong đó quy định tương đối chi tiết, cụ thể về công tác bảo vệ người cộng tác, người tố giác, người làm chứng, người bị hại trong các vụ án xâm phạm an ninh quốc gia và các vụ án khác do cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia thụ lý.

4. Luật Phòng, chống ma túy

Luật Phòng, chống ma túy năm 2000, sửa đổi, bổ sung năm 2008 khẳng định: cơ quan chuyên trách phòng, chống tội phạm về ma túy trong công an nhân dân được “áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ người tố giác, người làm chứng và người bị hại trong các vụ án về ma tuy” (điểm e khoản 1, Điều 13).

+ Nghị định số 99/2002/NĐ-CP ngày 27/11/2002 quy định điều kiện, thủ tục, thẩm quyền và trách nhiệm của cơ quan chuyên trách phòng, chống tội phạm về ma tuý thuộc công an nhân dân và đã dành riêng Chương VII để quy định về bảo vệ người tố giác, người làm chứng, người bị hại.

+ Thông tư số 09/2004/TT-BCA(V19) ngày 16/6/2004 hướng dẫn áp dụng một số biện pháp bảo vệ người tố giác, người làm chứng, người bị hại trong các vụ án về ma tuý.

5. Luật Công an nhân dân

Luật Công an nhân dân năm 2005, khi quy định về chế độ, chính sách đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia, phối hợp, cộng tác, giúp đỡ công an nhân dân cũng đã khẳng định: “Nhà nước bảo vệ, giữ bí mật cho cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia, phối hợp, cộng tác, giúp đỡ công an nhân dân trong bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội” (khoản 1, Điều 13).

Luật công an nhân dân năm 2005 được thay thế bằng Luật công an nhân dân năm 2014. Tại khoản 2 Điều 13 như sau: "Nhà nước bảo vệ, giữ bí mật cho cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia, phối hợp, cộng tác, giúp đỡ Công an nhân dân trong bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm."

Luật công an nhân dân được ban hành năm 2018 là văn bản hiện đang có hiệu lực áp dụng. Tại khoản 2 Điều 14 có quy định như sau: "Cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia, phối hợp, cộng tác, hỗ trợ Công an nhân dân trong bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật được bảo vệ, giữ bí mật theo quy định của pháp luật."

6. Luật Phòng, chống tham nhũng

Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 chỉ mỗi đề cập tối trách nhiệm của “Người đứng đầu cơ quan tổ chức có thẩm quyền khi nhận được tố cáo hành vi tham nhũng phải xem xét và xử lí theo thẩm quyền, giữ bí mật họ tên, địa chỉ, bút tích và các thông tin khác theo yêu cầu của người tố cáo; áp dụng đồng thời các biện pháp cần thiết để bảo vệ người tố cáo khi có biểu hiện đe dọa, trả thù, trù dập người tố cáo hoặc khi người tố cáo yêu cầu; thông báo kết quả giải quyết tố cáo cho người tố cáo khi có yêu cầu” (khoản 2, Điều 65).

Hiện nay, Luật Phòng, chống tham những năm 2018 có quy định cụ thể hơn:

"Cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền khi nhận được phản ánh, tố cáo về hành vi tham nhũng phải xem xét, xử lý kịp thời và áp dụng các biện pháp bảo vệ người phản ánh, tố cáo" (Khoản 2 Điều 65).

"Điều 67. Bảo vệ người phản ánh, tố cáo, báo cáo về hành vi tham nhũng

1. Việc bảo vệ người tố cáo hành vi tham nhũng được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố cáo.

2. Người phản ánh, báo cáo về hành vi tham nhũng được áp dụng các biện pháp bảo vệ như bảo vệ người tố cáo."

Ngoài ra, việc Việt Nam phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng vào ngày 30/6/2009, trong đó có cam kết: “Mỗi quốc gia thành viên sẽ áp dụng các biện pháp thích hợp, theo pháp luật quốc gia và trong khả năng có thể để bảo vệ một cách hiệu quả nhân chứng và chuyên gia” (Kl, Đ32). Cơ sở pháp lý này làm phát sinh những trách nhiệm của Việt Nam trong việc hoàn thiện pháp luật quốc gia về bảo vệ nạn nhân và nhân chứng trong chống tham nhũng. Trong lộ trình thực hiện Công ước, với nỗ lực từng bước nội luật hoá các quy định của Công ước về bảo vệ nhân chứng, các chuyên gia và nạn nhân trong chống tham nhũng, Nghị quyết số 21/NQ-CP của Chính phủ đã giao cho Thanh tra chính phủ chủ trì soạn thảo Luật tố cáo, Bộ Công an soạn thảo Luật Bảo vệ nhân chứng và Bộ Tư pháp soạn thảo Luật Giám định tư pháp.

7. Những nỗ lực của Việt Nam trong vấn đề bảo vệ quyền của người bị hại

Có thể coi kế hoạch xây dựng Luật Bảo vệ nhân chứng là một bước tiến dài trong nỗ lực bảo vệ, thúc đẩy quyền con người nói chung, quyền của người bị hại nói riêng. Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại, cho thấy, việc cho ra đời Luật Bảo vệ nhân chứng vẫn đang là kế hoạch, dự thảo của bộ luật này cũng chưa được mang ra bàn hay lấy ý kiến góp ý trong Bộ Công an hay tại các cơ quan chức năng có liên quan khác.

Như vậy, quyền của người bị hại cũng như quy định trách nhiệm bảo vệ quyền của người bị hại tuy có được ghi nhận bảo vệ trong hệ thống pháp luật Việt Nam nhưng có thể dễ dàng nhận thấy đó là những quy định mang tính rời rạc, tính tình thế và được áp dụng đối với một số trường hợp cụ thể mà không có tính hiệu lực chung cho mọi đối tượng là nạn nhân của tội phạm. Hơn nữa, hầu hết các quy định này chỉ mới dừng lại nguyên tắc, chưa có hướng dẫn cụ thể về trình tự, thủ tục, thẩm quyền, lực lượng tiến hành bảo vệ. Các vấn đề về kinh phí bảo vệ người bị hại, cách thức bảo vệ hoặc các câu hỏi ai bảo vệ, bảo vệ cái gì, bảo vệ đến đâu, như thế nào thì vẫn chưa hề được đề cập giải quyết. Nói cách khác, có thể thấy, các quy định về bảo vệ người bị hại trong pháp luật Việt Nam hiện hành còn nặng tính hình thức mà chưa thực sự bảo vệ được người bị hại hay nạn nhân của tội phạm trên thực tế.

Từ đó, cho phép khẳng định, cho đến nay về mặt lập pháp, quyền của người bị hại trong tư pháp hình sự Việt Nam vẫn còn mờ nhạt và chưa hề được quan tâm đúng mức. Các quy định của pháp luật về quyền của người bị hại chỉ mới dừng lại ở nguyên tắc xử lý mà chưa thể vận dụng được vào thực tế để thiết thực bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)