1. Các văn kiện quốc tế ghi nhận và bảo vệ quyền của người bị hại

Ở cấp độ quốc tế, nếu như Tuyên ngôn về quyền con người được Liên hợp quốc thông qua vào tháng 12/1948 thì Tuyên ngôn về các nguyên tắc cơ bản của tư pháp hình sự về nạn nhân của tội phạm và lạm dụng quyền lực (Declaration of Basic Principles of Justice for victims of Crime and Abuse of Power) được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 29/11/1985. Dù là muộn màng (ra đời sau Tuyên ngôn về quyền con người gần 40 năm) song đây được xem là một dấu mốc lịch sử đánh dấu sự ghi nhận của Liên hợp quốc về quyền của người bị hại, là nền tảng và cơ sở pháp lý quan trọng để thiết lập cơ chế bảo vệ quyền của người bị hại trên phạm vi toàn thế giới. Tiếp theo Tuyên ngôn này, vào năm 2006, Đại hội đồng Liên hợp quốc tiếp tục ra Tuyên bố về các nguyên tắc và hướng dẫn cơ bản về việc đền bù và bồi thường cho nạn nhân bị xâm phạm nghiêm trọng quyền con người (the 2006 Basic Principles and Guidelines on the Right to a Remedy and Reparation for Victims of Gross Violations of International Human Rights Law and Serious Violations of International Humanitarian Law). Đây là hai văn bản pháp luật quốc tế quan trọng ghi nhận và bảo vệ quyền của người bị hại, trong đó nhấn mạnh đến cơ chế thực hiện quyền được bồi thường cho nạn nhân.

 

2. Các quyền của người bị hại theo pháp luật quốc tế

Các quyền của người bị hại được pháp luật quốc tế ghi nhận và bảo vệ gồm:

  • Nhóm quyền được tiếp cận công lý và công bằng.
  • Quyền được đền bù thiệt hại từ nguồn tiền của người phạm tội (restitution).
  • Quyền được bồi thường từ nguồn quỹ công (compensation).
  • Nhóm quyền được nhận sự hỗ trợ cần thiết từ nhà nước và cộng đồng.

 

3. Nhóm quyền được tiếp cận công lý và công bằng

Nhóm quyền được tiếp cận công lý và công bằng, bao gồm:

Một là, Quyền “được đối xử tôn trọng, được tiếp cận công lý một cách nhanh chóng, được khắc phục hậu quả kịp thời" (Điều 4);

Hai là, Quyền “được có một hệ thống cơ quan tư pháp và hành chính để giúp các nạn nhân được bồi thường thông qua các thủ tục tố tụng chính thức hoặc không chính thức một cách nhanh chóng, công bằng, không tốn kém và dễ tiếp cận. Nạn nhân phải được thông báo về các quyền của họ trong việc khiếu nại bồi thường thông qua các cơ chế, thủ tục tố tụng’ (Điều 5).

Ba là, Quyền được hỗ trợ tư pháp trong quá trình tham gia tố tụng, bao gồm: “(a) quyền được thông báo về vai trò, phạm vi quyền của họ, thời gian và tiến trình tố tụng, đặc biệt là thông tin về việc giải quyết vụ án và nơi mà nạn nhân có thể yêu cầu cung cấp thông tin; (b) những ý kiến và quan ngại của nạn nhân được trình bày và được xem xét ở những giai đoạn nhất định của quát trình tố tụng khi mà quyền lợi cá nhân của họ bị ảnh hưởng, theo cách không ảnh hưởng đến các bị cáo và phù hợp với hệ thống tư pháp hình sự của quốc gia; (c) nạn nhân được quyền hỗ trợ suốt quá trình tố tụng; (d) nạn nhân được nhà nước áp dụng các biện pháp cần thiết để giảm thiểu sự bất tiện, bảo vệ quyền bí mật đời tư và khi cần thiết nạn nhân, cũng như gia đình nạn nhân, người làm chứng cho nạn nhân, được bảo đảm an toàn khỏi sự đe dọa và trả thù; (e) được tránh mọi sự trì hoãn trong thủ tục giải quyết vụ án củng như đền bù cho nạn nhân" (Điều 6).

Bốn là, “Các cơ chế không chính thức trong việc giải quyết tranh chấp, bao gồm: hoà giải, trọng tài, tục lệ hay tập quán pháp, nên được sử dụng nếu tạo điều kiện thuận lợi cho hoà giải và bồi thường có lợi cho nạn nhân" (Điều 7).

 

4. Quyền được đền bù thiệt hại từ nguồn tiền của người phạm tội

Quyền được đền bù thiệt hại từ nguồn tiền của người phạm tội (restitution), bao gồm

Một là, “người bị hại, thân nhân hoặc gia đình của người bị hại được người phạm tội hoặc bên thứ ba chịu trách nhiệm về hành vi của họ bồi thường về các thiệt hại về tài sản, thanh toán chi phí phát sinh từ việc phạm tội, bồi hoàn các chi phí tham gia tố tụng’ (Điều 8).

Hai là, “quốc gia thành viên cần xem xét lại pháp luật hình sự quốc gia mình để bảo đảm việc giải quyết đền bù dân sự này như là một phần của bản án hình sự bên cạnh hệ thống các biện pháp trừng trị tội phạm bằng hình phạt" (Điều 9).

Ba là, “trong trường hợp tội phạm có gây thiệt hại đáng kể cho môi trường thì cần yêu cầu người gây thiệt hại phục hồi môi trường, hoàn trả các chi phí xây dựng lại cơ sở hạ tầng, thực hiện các thay thế, di dời cần thiết” (Điều 10).

 

5. Quyền được bồi thường và quyền được hỗ trợ cần thiết từ nhà nước và cộng đồng

Quyền được bồi thường từ nguồn quỹ công (compensation):

“Khi việc đền bù cho nạn nhân không đủ từ người phạm tội và từ những nguồn khác, nhà nước cần nỗ lực bù đắp tài chính cho: (a) nạn nhân là người bị thiệt hại đáng kể về thể chất, tinh thần do các tội phạm nghiêm trọng gây ra; (b) thành viên gia đình và những người sống phụ thuộc vào người đã chết hoặc người bị mất năng lực về thể chất, tinh thần do tội phạm gây ra” (Điều 12).

Nhóm quyền được nhận sự hỗ trợ cần thiết từ nhà nước và cộng đồng:

Từ Điều 14 đến Điều 17 của Công ước quy định người bị hại được nhận sự hỗ trợ cần thiết từ nhà nước và cộng đồng về các dịch vụ y tế, bảo trợ khẩn cấp, dịch vụ trợ giúp phục hồi tâm lý, cũng như các nguồn viện trợ nhân đạo khác từ chính phủ, tổ chức phi chính phủ và cộng đồng. Các nhân viên của chính phủ như cảnh sát, người tiến hành tố” tụng, đội ngũ bác sĩ, y tá và các nhân viên chính phủ khác có liên quan cần được đào tạo, hướng dẫn và có những trợ giúp thích hợp để xử lý nhanh chóng, kịp thời nhằm cứu giúp và hỗ trợ cho các nạn nhân của tội phạm.

 

6. Quyền của bị hại trong tố tụng hình sự ở Việt Nam

Phạm vi của đối tượng được hưởng quyền của bị hại không chỉ giới hạn là những bị hại trực tiếp của tội phạm mà còn được mở rộng ra cả đối tượng khác như: Trường hợp bị hại chết, mất tích, bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì người đại diện thực hiện quyền và nghĩa vụ của người bị hại quy định. Trường hợp cơ quan, tổ chức là bị hại có sự chia, tách, sáp nhập, hợp nhất thì người đại diện theo pháp luật hoặc tổ chức, cá nhân kế thừa quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức đó có những quyền và nghĩa vụ theo quy định (Khoản 5 Điều 62 BLTTHS 2015)

Quyền của bị hại và người đại diện của họ được quy định tại khoản 2 Điều 62 BLTTHS 2015 như sau:

- Quyền được thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ (điểm a khoản 2 Điều 62 BLTTHS 2015).

- Quyền được đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu (điểm b khoản 2 Điều 62 BLTTHS 2015): Đây là một trong những điểm mới của BLTTHS năm 2015. Theo điểm b khoản 2 Điều 62 BLTTHS năm 2015 thì bị hại hoặc người đại diện của họ có quyền: “Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu”.

- Quyền trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá (điểm c khoản 2 Điều 62 BLTTHS 2015): Nếu như trước đây, bị hại trong vụ án hình sự chỉ được đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu thì theo BLTTHS 2015, bị hại còn có quyền trình bày ý kiến của mình về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án đồng thời có quyền yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá các tài liệu, đồ vật đó. Đây là một quy định nâng cao sự chủ động của bị hại khi tham gia tố tụng hình sự.

- Đề nghị giám định, định giá tài sản theo quy định của pháp luật (điểm d khoản 2 Điều 62 BLTTHS 2015): BLTTHS 2015 cho phép bị hại cũng như đương sự hoặc người đại diện của họ có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trưng cầu giám định những vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ, trừ những trường hợp việc giám định liên quan đến việc xác định trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội (khoản 1 Điều 207 BLTTHS 2015).

- Quyền được thông báo kết quả điều tra, giải quyết vụ án (điểm đ khoản 2 Điều 62 BLTTHS 2015).

- Quyền đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật (điểm e khoản 2 Điều 62 BLTTHS 2015): Khi có căn cứ để cho rằng người có thẩm quyền tiến hành tố tụng như điều tra viên, cán bộ điều tra, kiểm sát viên, kiểm tra viên, thẩm phán, hội thẩm, thư ký toà án không vô tư trong khi tiến hành tố tụng và người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật không vô tư trong khi tham gia tố tụng thì bị hại có quyền đề nghị thay đổi họ (khoản 2 Điều 50 BLTTHS 2015).

- Đề nghị hình phạt, mức bồi thường thiệt hại, biện pháp bảo đảm bồi thường (điểm g khoản 2 Điều 62 BLTTHS 2015): Bị hại có quyền đề nghị hình phạt đối với người phạm tội để các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng xem xét sau khi đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và xác định sự thật khách quan của vụ án. Bị hại cũng có quyền đề nghị mức bồi thường thiệt hại và các biện pháp bảo đảm bồi thường thiệt hại do tội phạm xâm phạm.

- Tham gia phiên tòa; trình bày ý kiến, đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi bị cáo và người khác tham gia phiên tòa; tranh luận tại phiên tòa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; xem biên bản phiên tòa (điểm h khoản 2 Điều 62 BLTTHS 2015):

- Tự bảo vệ, nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình (điểm i khoản 2 Điều 62 BLTTHS 2015):

BLTTHS năm 2015 chính thức quy định đây là quyền của bị hại để họ có thể lựa chọn tự mình bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình hoặc là nhờ người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình.

- Tham gia các hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật này (điểm k khoản 2 Điều 62 BLTTHS 2015)

- Yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp khác của mình, người thân thích của mình khi bị đe dọa (điểm l khoản 2 Điều 62 BLTTHS 2015): Để bảo đảm an toàn cho bị hại, BLTTHS 2015 quy định thêm quyền rất thiết thực cho bị hại là họ được yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải thực hiện các biện pháp cần thiết để bảo vệ cho họ và người thân của họ khi họ báo cáo về nguy cơ họ bị xâm hại hoặc có căn cứ cụ thể về những hành vi đe dọa họ nhằm gây sức ép hoặc cản trở quyền tố tụng của họ.

- Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án (điểm m khoản 2 Điều 62 BLTTHS 2015): Trong trường hợp bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ chết hoặc trong trường hợp người bị hại là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất có quyền kháng cáo toàn bộ bản án hoặc quyết định sơ thẩm theo hướng có lợi cho bị cáo hoặc theo hướng làm xấu hơn tình trạng của bị cáo. Trong trường hợp bị hại chỉ kháng cáo phần bản án hoặc quyết định sơ thẩm có liên quan đến việc bồi thường thiệt hại, thì họ có thể uỷ quyền cho người khác. Người được uỷ quyền có các quyền và nghĩa vụ như người đại diện hợp pháp của nguyên đơn dân sự.

- Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng (điểm n khoản 2 Điều 62 BLTTHS 2015):

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)