1. Cơ chế quốc gia về bảo vệ quyền của người bị hại
Nếu như cơ chế quốc tế và cơ chế khu vực chủ yếu bảo vệ quyền của người bị hại thông qua các Tuyên ngôn của Liên hợp quốc hoặc các Tuyên bố chung của khu vực thì cơ sở pháp lý của mỗi quốc gia trong việc bảo vệ quyền của người bị hại là các Luật, Bộ luật, Đạo luật (Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc) hoặc theo một quyết định của Tổng thống (Indonexia) hoặc Nghị viện (Đan Mạch).
Nếu như Liên hợp quốc thành lập Hội đồng Nhân quyền thành lập Chương trình bồi thường nạn nhân tội phạm quốc tế (International Crime Victim Compensation Program Directory) hoặc châu Mỹ thành lập các tổ chức phi chính phủ hỗ trợ người bị hại, châu Âu cho ra đời Tổ chức Hỗ trợ nạn nhân thì tại các quốc gia, việc thành lập các cơ chế bảo vệ quyền của người bị hại rất phong phú: từ việc thành lập các Hiệp hội Nạn nhân học (Hàn Quốc), các Viện Nghiên cứu nạn nhân học (Nhật Bản) hay các Văn phòng thanh tra Ombudsman quyền của người bị hại (Mỹ).
Mỗi cơ chế ở khu vực hay quốc gia đều mang những đặc trưng riêng rất đặc thù do ảnh hưởng của lịch sử và đặc trưng nền pháp lý cũng như phụ thuộc rất lớn vào chế độ chính trị, trình độ văn hóa, kinh tế, xã hội của khu vực, của mỗi quốc gia. Không thể khẳng định hình thức, cơ chế nào là ưu việt tuy nhiên có thể thấy rất rõ là ở khu vực nào, ở quốc gia nào mà các quyền của người bị hại được quan tâm nghiên cứu và được cơ quan lập pháp đệ trình lên thành luật hoặc các công ước, nghị quyết chung mang tính pháp lý có hiệu lực thi hành thì ở nơi đó các thiết chế, cơ quan, tổ chức bảo vệ quyền của người bị hại có cơ sở để hình thành và phát huy được vai trò chủ động của nó trong việc bảo vệ và thúc đẩy quyền của người bị hại.
Mặc dù ở tầm khu vực (châu Á - Asia, hay châu Á Thái Bình Dương - ASEAN) chưa thiết lập được thiết chế bảo vệ quyền của người bị hại như châu Âu hay châu Mỹ, xét ở tầm quốc gia thì việc bảo vệ và thúc đẩy quyền của người bị hại đã được một số quốc gia châu Á chú trọng phát triển và bước đầu có những kết quả đáng khích lệ.
2. Nhật Bản
Trong các cơ chế quốc gia bảo vệ quyền của người bị hại thì Nhật Bản là nước đứng đầu các nước châu Á với Hiệp hội Nạn nhân học Nhật Bản (JAV - The Japaness Association of Victimology). JAV của Nhật Bản được thành lập năm 1990 bởi TS. Koichi Miyazawa (tổ chức nghiên cứu về nạn nhân đầu tiên của châu Á). Hiện nay, vối hơn 350 nhà khoa học đang nghiên cứu lĩnh vực nạn nhân và quyền của nạn nhân là tội phạm, JAV được quốc tế ghi nhận là tổ chức đứng đầu châu Á trong việc bảo vệ và phát triển quyền của người bị hại. Vối những hoạt động tích cực của JAV, năm 2004, Nhật Bản đã thông qua Bộ luật về nạn nhân của tội phạm (The Crime Victim Basic Act). Sau khi Bộ luật này có hiệu lực, chính phủ Nhật Bản đã ra Bản kế hoạch quốc gia bảo vệ nạn nhân, dựa vào kế hoạch này, năm 2005, Hội đồng Thúc đẩy quyền của người bị hại (Crime Victim Policy Promotion Council - CVPPC) trực thuộc Nội các Nhật đã ra đời. Chính sự ra đời của cơ chế CVPPC này đã giúp Nhật Bản có những thành công tích cực trong bảo vệ quyền của người bị hại được quốc tế ghi nhận.
3. Hàn Quốc
Bên cạnh Nhật Bản, Hàn Quốc là quốc gia được xếp thứ hai trong phong trào bảo vệ quyền của người bị hại với sự kiện KAV được thành lập năm 1992. KAV - Korean Association of Victimology Hiệp hội Nạn nhân học Hàn Quốc, được thành lập bởi Mr. Kun-Sik Min, người có mối quan hệ rất mật thiết với Giám đốc JAV Nhật Bản. Năm 2005, Bộ luật về bảo vệ quyền của người bị hại trong VAHS của Hàn Quốc có hiệu lực, tạo cơ sở pháp lý cho Hiệp hội Bảo trợ nạn nhân Hàn Quốc (Victim Support Corporation) trực thuộc Bộ Tư pháp Hàn Quốc ra đời, củng cố thêm cơ chế bảo vệ người bị hại tại Hàn Quốc.
4. Ấn Độ
Tổ chức Nạn nhân học Ấn Độ (ISV- Indian Society of Victimology) cũng được thành lập năm 1992, bởi GS. K. Chokalingam của Đại học Madras.
JAV, KAV và ISV là ba cơ chế quốc gia tiêu biểu của châu Á về bảo vệ quyền của người bị hại. Tại các quốc gia châu Á khác, thiết chế bảo vệ quyền của người bị hại lại thể hiện chủ yếu dưới hình thức các nhóm nghiên cứu hoặc các hội thảo thường niên về quyền của người bị hại.
5. Đài Loan
Tại Đài Loan, Hiệp hội Nạn nhân học Đài Loan (Taiwan Society of Victimology) hàng năm đều tổ chức hội thảo về quyền của nạn nhân (như quyền của nạn nhân là trẻ em, quyền của nạn nhân là các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp) mặc dù tại Đài Loan vẫn chưa có một thiết chế độc lập bảo vệ quyền của người bị hại.
6. Indonesia
Trong văn bản gốc của Hiến pháp năm 1945 (trước khi sửa đổi) có nhiều quyền và nghĩa vụ cơ bản khác nhau đối với công dân, nhưng bản thân thuật ngữ "quyền con người" không được đề cập trong văn bản. Theo chuyên gia pháp luật Indonesia và hiện Bộ điều phối các vấn đề chính trị, pháp lý và an ninh Mahfud MD, quyền con người khác với quyền công dân trong Hiến pháp năm 1945, bởi vì quyền con người được coi là quyền vốn có của con người một cách tự nhiên, trong khi quyền công dân là quyền cụ thể có được do một người Indonesia là công dân. Mặt khác, Soedjono Sumobroto nói rằng nhân quyền thực sự được bao hàm trong Hiến pháp năm 1945 thông qua Pancasila. Ngoài ra, trong phần mở đầu, nội dung và giải thích của hiến pháp hiện hành, có ít nhất 15 nguyên tắc về quyền con người.
Trong khi đó, các chuyên gia pháp lý khác như Kuntjoro Purbopranoto đã nhận thấy rằng có những bảo đảm về quyền con người trong Hiến pháp năm 1945 nhưng không được đưa vào một cách hệ thống. Theo ông, chỉ có bốn điều khoản có quy định về quyền con người, đó là Điều 27, 28, 29 và 31. Chuyên gia pháp lý Solly Lubis cũng tin rằng việc xây dựng các quyền trong hiến pháp thực sự rất đơn giản và ngắn gọn, nhưng theo Majda El Muhtaj thì điều này là đương nhiên vì việc soạn thảo Hiến pháp năm 1945 quá ngắn, không bắt kịp thời gian để Hiến pháp năm 1945 trở thành nền tảng cho nhà nước Indonesia mới độc lập. Bản thân hiến pháp ban đầu có hiệu lực từ ngày 18 tháng 8 năm 1945 đến ngày 27 tháng 12 năm 1945, nhưng việc ban hành nó không hiệu quả do cuộc cách mạng quốc gia và các điều kiện chính trị - xã hội không có lợi vào thời điểm đó.
Sau Hội nghị Bàn tròn, Hiến pháp năm 1949 sau đó Hoa Kỳ Indonesia (Hiến pháp RIS) có hiệu lực. Hiến pháp không đề cập rõ ràng từ "nhân quyền", tuy nhiên nó đã quy định rõ ràng về quyền con người trong Phần V có tựa đề "Quyền tự do và quyền cơ bản của con người". Phần này gồm 27 điều, cụ thể là Điều 7 đến Điều 33. Ngoài ra, Hiến pháp RIS năm 1949 cũng đặt ra các nghĩa vụ cơ bản của nhà nước liên quan đến nỗ lực thực thi quyền con người trong Mục 6 ("Các nguyên tắc cơ bản"), bản thân nó bao gồm 8 điều. Sự nhấn mạnh về quyền con người này là ảnh hưởng của Tuyên ngôn thế giới về quyền lợi của con người được thông qua bởi Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc vào ngày 10 tháng 12 năm 1948. Hiến pháp năm 1945 đã có hiệu lực trở lại vào năm 1959, và chỉ trải qua một số sửa đổi (bao gồm cả các điều khoản về nhân quyền) sau khi Trật tự Mới sụp đổ.
Các điều khoản về quyền con người sau đó được quy định thêm trong Đạo luật số 39 năm 1999 về Quyền con người (Undang-Undang Nomor 39 Tahun 1999 lều Hak Asasi Manusia).
Tại Indonesia, trường Đại học Airlangga là nơi thường xuyên tổ chức các buổi hội thảo cũng như phong trào nghiên cứu về người bị hại từ năm 1985 đến 1995, tuy nhiên phong trào nghiên cứu này không thể phát triển rộng ra trên quy mô toàn quốc.
7. Hồng Kông, Malaysia, Singapore, Brunei
Hồng Kông, Ân Độ, Malaysia, Singapore, Brunei đều là các quốc gia có ủy ban Bảo vệ người bị hại được đặt tại các tòa hình sự, như là một thiết chế quan trọng trong cơ chế bảo đảm quyền của người bị hại.
8. Việt Nam
Ở Việt Nam, việc ghi nhận vai trò của người bị hại trong việc tham gia vào quá trình giải quyết vụ án hình sự (VAHS) cũng như khẳng định địa vị pháp lý và các quyền tố tụng của người bị hại đã được chú ý ngay từ những ngày đầu giành được độc lập. Không thể phủ nhận các thành quả về xây dựng lý luận về bảo vệ quyền con người cũng như thực tiễn bảo đảm quyền con người (trong đó có quyền của người bị hại) của Đảng và Nhà nước ta. Tuy nhiên, cần phải thừa nhận rằng đến thời điểm năm 2005, khi Nghị quyết 49/NQ-BCT ra đời với Chiến lược cải cách tư pháp thì nhận thức và hành động bảo vệ quyền con người trong hoạt động tư pháp hình sự ở Việt Nam mới được quan tâm thúc đẩy.
Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại, ở Việt Nam trọng tâm của vấn đề bảo vệ quyền con người trong tư pháp hình sự vẫn là người bị buộc tội (người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án). Quyền của người bị hại chưa được Hiến pháp thừa nhận, người bị hại và quyền của họ chỉ được nhắc đến khiêm tốn trong Bộ luật TTHS Việt Nam vối các quy định về quyền và nghĩa vụ của người bị hại (Điều 51), Lời khai của người bị hại (Điều 68), khởi tố theo yêu cầu của người bị hại (Điều 105), sự có mặt của người bị hại tại phiên tòa (Điều 191).
BLTTHS 2003 quy định “Người bị hại là người bị thiệt hại về vật chất, tinh thần hoặc tài sản do tội phạm gây ra”. Đến BLTTHS 2015 thuật ngữ “Người bị hại” trong BLTTHS 2003 đã được thay thế bằng thuật ngữ “Bị hại” trong đó khái niệm bị hại mở rộng hơn đối tượng bao gồm cá nhân và pháp nhân (BLTTHS 2003 quy định chỉ có cá nhân).
Phạm vi của đối tượng được hưởng quyền của bị hại không chỉ giới hạn là những bị hại trực tiếp của tội phạm mà còn được mở rộng ra cả đối tượng khác như: Trường hợp bị hại chết, mất tích, bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì người đại diện thực hiện quyền và nghĩa vụ của người bị hại quy định. Trường hợp cơ quan, tổ chức là bị hại có sự chia, tách, sáp nhập, hợp nhất thì người đại diện theo pháp luật hoặc tổ chức, cá nhân kế thừa quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức đó có những quyền và nghĩa vụ theo quy định (Khoản 5 Điều 62 BLTTHS 2015).
LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)