1. Vai trò của người bị hại trong vụ án hình sự

Về thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự và tố tụng hình sự (TTHS) cho thấy người bị hại là người mà quyền và lợi ích hợp pháp của họ bị xâm hại nặng nề nhất, họ là người chịu nhiều thiệt thòi nhất trong những người tham gia tố tụng. Phạm vi của đối tượng được hưởng quyền của bị hại không chỉ giới hạn là những bị hại trực tiếp của tội phạm mà còn được mở rộng ra cả đối tượng khác như: Trường hợp bị hại chết, mất tích, bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì người đại diện thực hiện quyền và nghĩa vụ của người bị hại quy định. Trường hợp cơ quan, tổ chức là bị hại có sự chia, tách, sáp nhập, hợp nhất thì người đại diện theo pháp luật hoặc tổ chức, cá nhân kế thừa quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức đó có những quyền và nghĩa vụ theo quy định (Khoản 5 Điều 62 BLTTHS 2015)

Tuy nhiên, trong quá trình tham gia tố tụng, vị trí, vai trò của người bị hại chưa được các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng xem là một mắt xích quan trọng của tiến trình chứng minh và giải quyết đúng đắn VAHS. Ngoại trừ những trường hợp khởi tố theo yêu cầu của người bị hại thì mọi sự tham gia của chủ thể này vào việc giải quyết VAHS hầu hết là bị động (được xem là nghĩa vụ nhiều hơn là quyền). Sự có mặt của họ trong các khâu, quy trình giải quyết vụ án (như khởi tố, điều tra, thu thập chứng cứ hay quá trình xét xử tại tòa) chỉ đóng vai trò là một bên tham gia thụ động, các ý kiến hay nguyện vọng của người bị hại không ảnh hưởng đến kết quả hay diễn biến của TTHS. Ngay cả chính bản thân người bị hại cũng không hoặc chưa ý thức được đầy đủ vị trí, vai trò và quyền năng tố tụng của mình trong các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự. Các quyền của người bị hại vốn đã rất khiêm tôn trong pháp luật hình sự và tố tụng hình sự - vì thế mà lại càng dễ bị bỏ quên trong thực tiễn áp dụng và thi hành luật.

2. Về thủ tục xác định người bị hại trong vụ án hình sự (VAHS)

Trong thực tế áp dụng Bộ luật TTHS và trong trình tự tiến hành giải quyết VAHS, chưa hề có một thủ tục tố tụng nào nhằm xác lập ai là người bị hại trong VAHS. Cụ thể, một người tham gia tố tụng với tư cách là bị can khi có quyết định khởi tố bị can, tham gia với tư cách là bị cáo khi họ có quyết định đưa vụ án ra xét xử của Toà án, hay họ được coi là người làm chứng khi có quyết định triệu tập người làm chứng. Tuy nhiên, đối với người bị hại, thủ tục xác định tư cách tham gia tố tụng của họ trong vụ án hình sự được tiến hành chủ yếu theo hai cách sau:

Thứ nhất: Đối với những vụ án có đơn yêu cầu khởi tố- của người bị hại thì việc xác định tư cách tố tụng của người bị hại được ngầm hiểu là khi đơn yêu cầu khởi tố của người bị hại được chấp nhận, khi vụ án được khởi tố.

Trường hợp này, trường hợp vụ án có nhiều người bị hại thì những người không có đơn yêu cầu khởi tố cũng được Toà án hướng dẫn là những người không có yêu cầu khởi tố vụ án đều được tham gia tố tụng với tư cách là người bị hại trong vụ án, tuy nhiên cách thức xác định tư cách người bị hại của họ như thế nào, cơ quan nào công nhận, công nhận bằng hình thức nào, bằng văn bản pháp lý nào thì chưa được quy định cụ thể

Thứ hai, Đối với những vụ án được khởi tố mà không phụ thuộc vào việc có xác định được người bị hại hay không, có đơn yêu cầu của người bị hại hay không thì văn bản tố tụng duy nhất xác định tư cách tố tụng của họ (nếu có) là Biên bản lấy lời khai người bị hại hoặc Giấy triệu tập của cơ quan điều tra, viện kiểm sát hoặc . toà án trong đó ghi rõ triệu tập họ đến cơ quan tiến hành tố tụng với tư cách là người bị hại.

Nghĩa là, trong trường hợp này, đối với những VAHS mặc dù có người bị hại nhưng nếu người bị hại không được cơ quan tiến hành tố tụng triệu tập đến để cung cấp chứng cứ thì họ không có một cơ sở pháp lý nào để được thừa nhận là người bị hại trong vụ án đó. Hay đối với những vụ án có nhiều người bị thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra thì những cá nhân nào may mắn được cơ quan điều tra hoặc viện kiểm sát, tòa án triệu tập thì họ mới được tham gia với tư cách là người bị hại, những người không được triệu tập thì họ không biết phải đưa ra chứng cứ pháp lý nào để chứng minh rằng mình là người bị hại của vụ án đó.

3. Về việc thực hiện chức năng buộc tội để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại

Người bị hại có quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu (điểm a, khoản 2, Điều 51).

Người bị hại được thông báo về kết quả điều tra (điểm b, khoản 2 Điều 51). Tuy nhiên, để cụ thể hoá thủ tục này thì Bộ luật TTHS hay các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật TTHS đều không có quy định cụ thể người bị hại được thông báo những gì hay nói cách khác, kết quả điều tra phải bao gồm những nội dung gì thì không có quy định cụ thể. Ví dụ: kết quả điều tra bao gồm: bản kết luận điều tra, đề nghị truy tố, lý do tạm đình chỉ điều tra, hoặc kết quả điều tra gồm có: kết quả giám định thương tật, kết quả khám nghiệm hiện trường, biên bản khám xét... Và thực tiễn thủ tục giải quyết VAHS cho thấy, cơ quan tiến hành tố tụng chỉ có nghĩa vụ gửi quyết định tạm đình chỉ điều tra cho người bị hại (khoản 2, Điều 160) còn các nghĩa vụ khác để thông báo kết quả điều tra hay tiến trình giải quyết VAHS cho người bị hại thì đều đang bị bỏ ngỏ, chưa có quy định ràng buộc giữa quyền của người bị hại và nghĩa vụ của cơ quan tiến hành tố tụng.

Người bị hại có quyền tham gia phiên tòa (điểm d, khoản 2, Điều 217)

Đây vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ. Tuy nhiên, nếu người bị hại vắng mặt ngay cả khi có giấy triệu tập thì toà án không bắt buộc phải hoãn. Nói cách khác, sự tham gia phiên tòa của người bị hại vối vai trò hoàn toàn bị động, họ chưa được xem là một bên của quá trình giải quyết vụ án ngay cả khi đó là vụ án được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại.

Người bị hại có quyền yêu cầu khởi tố vụ án và rút yêu cầu trước khi mở phiên tòa.

4. Về quyền yêu cầu người gây ra thiệt hại bồi thường, khắc phục thiệt hại

Đây là một quyền rất thiết thân và quan trọng đối với người bị hại. Tuy nhiên, dù quyển này đã được khẳng định trong điểm d, khoản 2, Điều 51 Bộ luật TTHS nhưng trên thực tế các cơ quan tiến hành tố tụng cũng chỉ tập trung điều tra chứng minh hành vi phạm tội và không quan tâm đúng mức đến việc điều tra vấn đề dân sự, giải quyết bồi thường trong VAHS”. Thực tế, việc bồi thường thỏa đáng của người phạm tội cho người bị hại có thể được xem xét là một tình tiết giảm nhẹ, nhưng trường hợp không bồi thường hoặc có xác nhận là sẽ bồi thường nhưng việc có bồi thường cho người bị hại hay không thì không hề ảnh hưởng đến trách nhiệm hình sự của người phạm tội.

Ở một số nước, ngoài cơ chế người phạm tội có nghĩa vụ bồi thường cho người bị hại thì chính nhà nước hoặc các tổ chức hỗ trợ nạn nhân cũng có trách nhiệm bồi thường cho người bị hại từ nguồn quỹ công nếu thực chất họ bị thiệt hại do tội phạm gây ra.

5. Quyền được thông báo kết quả điều tra, giải quyết vụ án

Theo điểm đ khoản 2 Điều 62 BLTTHS 2015, bị hại có quyền được thông báo kết quả điều tra, giải quyết vụ án.

Trong giai đoạn điều tra, khi cơ quan điều tra ra quyết định tạm đình chỉ điều tra (Điều 229 BLTTHS 2015), quyết định phục hồi điều tra (Điều 235 BLTTHS 2015) và khi kết thúc điều tra, cơ quan điều tra phải thông báo cho bị hại, đương sự và người đại diện hợp pháp của họ (Điều 232 BLTTHS 2015).

Trong giai đoạn truy tố, khi Viện kiểm sát ra các quyết định như Quyết định truy tố bị can trước Tòa án (Điều 243 BLTTHS 2015), Quyết định trả hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung (Điều 245 BLTTHS 2015), Quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án, Quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án đối với bị can, Quyết định phục hồi vụ án (Điều 247, 248, 249 BLTTHS 2015) thì Viện kiểm sát có trách nhiệm thông báo cho bị hại.

Trong giai đoạn xét xử, Toà án giao Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho bị hại chậm nhất là 10 ngày trước khi mở phiên toà (khoản 1 Điều 286 BLTTHS 2015). Các Quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ vụ án, quyết định phục hồi vụ án của Tòa án được giao bị hại hoặc người đại diện của họ trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra quyết định (khoản 2 Điều 286 BLTTHS 2015). Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày tuyên án Tòa án cấp sơ thẩm phải giao bản án cho bị hại (khoản 1 Điều 262 BLTTHS 2015).

6. Tham gia các hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự

Theo điểm k khoản 2 Điều 62 BLTTHS 2015 thì người bị hại có quyền "tham gia các hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật này".

Vị trí và vai trò của bị hại khi họ tham gia tố tụng theo BLTTHS 2003 tương đối mờ nhạt và chủ yếu được thực hiện trong giai đoạn xét xử của toà án. Tuy nhiên đến BLTTHS 2015 Với quyền được tham gia các hoạt động tố tụng hình sự theo quy định của BLTHHS 2015 thì vai trò của bị hại đã được chú trọng và nâng cao. Như vậy, bị hại có có thể được tham gia vào một số hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án. Với quyền được tham gia một số hoạt động tố tụng quy định tại BLTTHS 2015, bị hại hoàn toàn chủ động trong việc bảo vệ quyền lợi của mình như họ có được thông tin từ các cơ quan tiến hành tố tụng mà không phải chờ đến khi được thông báo. Các cơ quan tiến hành tố tụng phải nỗ lực hết sức trong phạm vi khả năng của mình để bị hại được tham gia các hoạt động tố tụng theo luật định đồng thời phải tuân thủ những điều kiện nhất định như việc tham gia đó không ảnh hưởng đến tính khách quan của vụ án cũng như gây khó khăn hoặc cản trở đến hoạt động của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng khác.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)