1. Khái niệm quyền hưởng dụng.
Quyền hưởng dụng có từ thời La Mã cổ đại, người ta cho rằng quyền hưởng dụng là một vật quyền có thời hạn trên tài sản của người khác. Nó bao gồm quyền được khai thác công dụng và hưởng hoa lợi, lợi tức từ vật thuộc quyền sở hữu của chủ thể khác.
Quyền hưởng dụng là một trong các quyền có giá trị kinh tế là tài sản vô hình vì chúng không có đặc tính vật lý. Một chủ thể là chủ sở hữu của tài sản thì người đó có các quyền: Quyền chiếm giữ, quyền sử dụng và quyền định đoạt đối với tài sản đó. Nếu đối tượng của quyền hưởng dụng là tài sản thì nghĩa là chủ sở hữu đối với tài sản đó chỉ giữ lại quyền định đoạt, còn quyền sử dụng và quyền hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản đó thuộc về người hưởng dụng.
Đối với tài sản, ttong các quan hệ xã hội, có những chủ thể chỉ hướng tới nhu cầu được khai thác, hưởng hoa lợi, lọi tức từ tài sản thay vì xác lập quyền sở hữu vói tài sản. Bộ luật dân sự năm 2015 lần đầu tiên ghi nhận tại Điều 257 về khái niệm quyền hưởng dụng. Theo đó,
“quyền hưởng dụng là quyền của chủ thể được khai thác công dụng và hưởng hoa lợi, lợi tức đoi với tài sản thuộc quyền sở hữu của chủ thể khác trong một thời hạn nhất định”.
Trong cuộc sống, có nhiều trường hợp tài sản thuộc sở hữu của một chủ thể nhưng việc hưởng lợi ích từ việc khai thác tài sản đó lại thuộc quyền của chủ thể khác. Ví dụ: Cha mẹ già muốn sang tên, chuyển quyền sở hữu nhà cho con để ttánh những tranh chấp sau khi cha mẹ mất nhưng vẫn muốn được thu tiền cho thuê nhà để đảm bảo có nguồn thu nhập, sinh sống; hoặc trường hợp bố mẹ ở các địa phương mua nhà cho con đi học, đi làm tại Hà Nội ttao cho con toàn quyền khai thác, hưởng lợi từ căn nhà nhưng muốn giữ quyền sở hữu để kiểm soát và gìn giữ được tài sản. Tuy nhiên, khi người con có quyền hưởng dụng thì có quyền cho thuê, cho phép người khác thực hiện quyền hưởng dụng đó. Trường hợp này, BLDS quy định về quyền hưởng dụng để chủ sở hữu có thể trao cho người khác quyền hưởng dụng đối với tài sản thuộc sở hữu của mình nhưng vẫn giữ quyền sở hữu đối với tài sản. Mặt khác, người hưởng dụng cũng có quyền đối với tài sản hưởng dụng tương đối độc lập với chủ sở hữu, vì thế người hưởng dụng có thể thực hiện quyền hưởng dụng của mình một cách hiệu quả nhất.
2. Căn cứ phát sinh quyền hưởng dụng.
Điều 258 BLDS năm 2015 quy định:
“Quyền hưởng dụng được xác lập theo quy định của luật, theo thoả thuận hoặc theo di chúc”.
Như vậy, quyền hưởng dụng có thể phát sinh căn cứ vào một ttong ba căn cứ là: quy định của luật, thoảthoả thuận của các bên hoặc di chúc của người chủ sở hữu tài sản.
Theo quy định của pháp luật hiện hành, quyền hưởng dụng phát sinh theo quy định của luật chưa có căn cứ trong văn bản pháp luật. Trước đây, trong cổ luật, có thể thấy các trường hợp tương tự được xác lập cho cha mẹ già được quyền sử dụng nhà thuộc sở hữu của con hoặc con chưa thành niên được quyền ở nhà của cha mẹ. Thông thường, các trường hợp phát sinh quyền hưởng dụng theo quy định của pháp luật được hình thành trên yêu cầu cần đảm bảo quyền lợi của một số chủ thể cần được bảo vệ (như người già, trẻ nhỏ, người tàn tật...).
Trong các căn cứ phát sinh quyền hưởng dụng, thoả thuận và di chúc là những căn cứ phổ biến. Theo đó, chủ sở hữu có thể bằng ý chí của mình xác lập hợp đồng với người được quyền hưởng dụng hoặc lập di chúc trao quyền sở hữu tài sản và để lại quyền hưởng dụng cho những người khác nhau được chủ sở hữu lựa chọn. Tuy nhiên, các thoả thuận trong hợp đồng cũng thể theo hướng chủ sở hữu chuyển giao quyền sờ hữu tài sản cho người khác và giữ lại quyền hưởng dụng cho mình.
Quy định cho phép chuyển giao quyền sở hữu và quyền hưởng dụng cho những chủ thể khác nhau thông qua di chúc là một bước phát triển mới và đầy tiến bộ của BLDS năm 2015.
3. Thời hạn quyền hưởng dụng.
Quyền hưởng dụng được xác lập cho người có quyền hưởng dụng căn cứ trên thực tế họ đã nhận chuyển giao tài sản. Có nghĩa là kể từ thời điểm người này nhận chuyển giao tài sản, họ có quyền được khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức đối với tài sản đó. Tuy nhiên, nếu luật liên quan có quy định khác hoặc các bên có thoả thuận khác, quyền hưởng dụng sẽ được xác lập theo thời điểm được luật quy định hoặc thời điểm các bên thoả thuận mà không căn cứ vào thời điểm nhận chuyển giao tài sản.
Với tính chất tuyệt đối của một vật quyền, kể từ thời điểm quyền hưởng dụng phát sinh hiệu lực, quyền hưởng dụng sẽ được bảo vệ, tôn trọng và có giá ttị đối kháng với các chủ thể khác ttong xã hội. Thời điểm quyền hưởng dụng có hiệu lực được xác định theo thời điểm xác lập, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác.
Thời hạn của quyền hưởng dụng được xác định theo Điều 260 BLDS năm 2015. Theo đó, thời hạn của quyền hưởng dụng do các bên thoả thuận hoặc do luật quy định nhưng tối đa đến hết cuộc đời của người hưởng dụng đầu tiên nếu người hưởng dụng là cá nhân và đến khi pháp nhân chấm dứt tồn tại nhung tối đa là 30 năm nếu người hưởng dụng đầu tiên là pháp nhân.
Theo Điều 260 Bộ luật dân sự 2015:
Điều 260. Thời hạn của quyền hưởng dụng
1. Thời hạn của quyền hưởng dụng do các bên thỏa thuận hoặc do luật quy định nhưng tối đa đến hết cuộc đời của người hưởng dụng đầu tiên nếu người hưởng dụng là cá nhân và đến khi pháp nhân chấm dứt tồn tại nhưng tối đa 30 năm nếu người hưởng dụng đầu tiên là pháp nhân.
2. Người hưởng dụng có quyền cho thuê quyền hưởng dụng trong thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này.
Thời hạn của quyền hưởng dụng sẽ do hai bên tự thỏa thuận với nhau hoặc do pháp luật quy định nhưng không được vượt quá thời gian tối đa theo Điều luật trên quy định.
- Nếu chủ thể hưởng dụng là cá nhân: Thời hạn hưởng dụng tối đa đến hết cuộc đời của người hưởng dụng đầu tiên. Quy định này xác định rõ đối với trường hợp nhiều cá nhân được hưởng dụng trên một tài sản thì thời gian đời người được xác định theo người hưởng dụng đầu tiên.
- Nếu chủ thể hưởng dụng là pháp nhân: Pháp nhân là chủ thể hưởng dụng thì thời gian hưởng dụng tối đa của pháp nhân cho đến khi pháp nhân chấm dứt tồn tại nhưng không quá 30 năm. Pháp nhân bị chấm dứt tư cách chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự khi có sự kiện pháp lý xảy ra theo qui định của pháp luật như phá sản, giải thể.
Người hưởng dụng có quyền cho thuê quyền hưởng dụng: về nội dung, quyền hưởng dụng thấp hơn (yếu) hơn quyền sở hữu nhưng về cơ bản, cao (mạnh) hơn quyền sử dụng trong hợp đồng thuê, hợp đồng mượn tài sản. Người hưởng dụng được “tự mình hoặc cho phép người khác khai thác, sử dụng, thu hoa lợi, lợi tức từ đối tượng của quyền hưởng dụng” và “cho thuê quyền hưởng dụng đối với tài sản” mà không cần có sự đồng ý của chủ sở hữu tài sản.
Trường hợp một người được hưởng dụng suốt đời nhưng cho phép người khác khai thác, sử dụng đối tượng của quyền hưởng dụng thì thời hạn tối đa thực hiện quyền khai thác, sử dụng kết thúc khi người hưởng dụng đầu tiên chết.
Đối với pháp nhân khi được hưởng dụng đến khi giải thể hoặc 50 năm... nhưng sau đó cho phép pháp nhân khác khai thác, sử dụng đối tượng của quyền hưởng dụng thì thời hạn tối đa mà pháp nhân thứ hai khai thác, sử dụng là không quá 30 năm tính từ thời điểm pháp nhân đầu tiên bắt đầu hưởng dụng.
quyền hưởng dụng của các đối tượng được hưởng quyền sẽ được xác lập cho người có quyền hưởng dụng dựa trên các căn cứ trên thực tế khi các chủ thể này đã nhận chuyển giao tài sản. Hay hiểu một cách đơn giản là kể từ thời điểm người này nhận chuyển giao tài sản, họ có quyền được khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức đối với tài sản mà mình có quyền hưởng dụng. Tuy nhiên, nếu pháp luật liên quan có quy định khác hoặc các bên có thỏa thuận khác, quyền hưởng dụng sẽ được xác lập theo thời điểm được luật quy định hoặc thời điểm các bên thỏa thuận mà không căn cứ vào thời điểm nhận chuyển giao tài sản.
Cũng cần lưu ý rằng, kể từ thời điểm quyền hưởng dụng phát sinh hiệu lực, quyền hưởng dụng sẽ được bảo vệ, tôn trọng và có giá trị đối kháng với các chủ thể khác trong xã hội.
4. Hiệu lực quyền hưởng dụng.
Điều 259. Hiệu lực của quyền hưởng dụng
Quyền hưởng dụng được xác lập từ thời điểm nhận chuyển giao tài sản, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật liên quan có quy định khác.
Quyền hưởng dụng đã được xác lập có hiệu lực đối với mọi cá nhân, pháp nhân, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác.
Theo quy định trên thì:
- Quyền hưởng dụng được xác lập từ thời điểm nhận chuyển giao tài sản. Về nguyên tắc, quyền hưởng dụng được xác lập từ thời điểm nhận chuyển giao tài sản, dù hai bên đã có sự thỏa thuận cụ thể về đối tượng của quyền hưởng dụng, điều kiện và thời hạn, quyền và nghĩa vụ của các bên... nhưng nếu chủ sở hữu chưa giao và người hưởng dụng chưa nhận được tài sản chưa phát sinh hiệu lực của quyền hưởng dụng (quyền hưởng dụng chưa được xác lập). Giữa chủ sở hữu và người hưởng dụng chưa có sự ràng buộc pháp lý đối với nhau. Các bên không có quyền yêu cầu đối với nhau trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ. Khi chủ sở hữu chuyển giao tài sản và bên hưởng dụng đã nhận thì hiệu lực của quyền hưởng dụng mới phát sinh. Có thể coi đây là thời điểm thực tế người có quyền hưởng dụng được tiến hành các hoạt động khai thác, sử dụng hưởng lợi của mình.
- Ngoài ra, các bên có thể thỏa thuận về thời điểm các lập quyền hưởng dụng. Bình đẳng thỏa thuận là nguyên tắc tối thượng điều chỉnh của Luật dân sự. Vì thế, các bên đã có thỏa thuận về thời điểm có hiệu lực của quyền quyền hưởng dụng thì sẽ xác định theo thỏa thuận này (có thể hiểu thỏa thuận trong trường họp này cao hơn quy định của luật). Chủ sở hữu tài sản và người hưởng dụng có quyền thỏa thuận về thời điểm xác lập quyền hưởng dụng, thời điểm này phụ thuộc vào ý chí của các bên, thường là phụ thuộc vào điều kiện và hoàn cảnh cho tiện lợi của họ.
5. Chấm dứt quyền hưởng dụng.
Điều 265 BLDS năm 2015 xác định 7 trường hợp chấm dứt quyền hưởng dụng, bao gồm: thời hạn quyền hưởng dụng đã hết; theo thoả thuận của các bên; người hưởng dụng trở thành chủ sở hữu tài sản là đối tượng của quyền hưởng dụng; người hưởng dụng từ bỏ hoặc khồng thực hiện quyền hưởng dụng trong thời hạn do luật định; tài sản là đối tượng của quyền hưởng dụng không còn; theo quyết định của toà án và các căn cứ khác theo quy định của luật.
Quyền hưởng dụng là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức đối với tài sản thuộc sở hữu của người khác trong một thời hạn nhất định do đó, khi hết thời hạn này, quyền hưởng dụng đương nhiên chấm dứt. Tuy nhiên, khi chưa hết thời hạn, quyền hưởng dụng cũng có thể chấm dứt nếu người hưởng dụng và chủ sở hữu của tài sản thoả thuận châm dứt quyền hưởng dụng hoặc nếu người hưởng dụng tự từ bỏ, không thực hiện quyền của mình. Quyền hưởng dụng là quyền đối vật, do đó, khi tài sản là đối tượng của quyền hưởng dụng không còn thì quyền hưởng dụng không còn đối tượng để tác động, khai thác nên sẽ chấm dứt. Trên thực tế, có những trường hợp người hưởng dụng được chuyển giao cà quyền sở hữu tài sản nên họ trở thành chủ sở hữu tài sản và chấm dứt tư cách người có quyền hưởng dụng đối với tài sản này. Ngoài ra, theo quyết định của toà án hoặc các căn cứ khác theo quy định của luật thì quyền hưởng dụng cũng chấm dứt.