1. Các quyền có ý nghĩa quan trọng với người khuyết tật

Công ước liệt kê những quyền con người có ý nghĩa quan trọng với người khuyết tật và yêu cầu các quốc gia thành viên phải thừa nhận và thực thi những biện pháp thích hợp để bảo đảm thực hiện các quyền đó, bao gồm: Quyền sống; Quyền bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng; Quyền tự do và an toàn cá nhân; Quyền được tôn trọng cuộc sống riêng tư; Quyền tự do đi lại, tự do lựa chọn quốc tịch và nơi sinh sống; Quyền tự do biểu đạt, chính kiến và tiếp cận thông tin; Quyền kết hôn và lập gia đình; Quyền được giáo dục; Quyền được chăm sóc sức khỏe; Quyền bình đẳng về lao động, việc làm; Quyền tham gia vào đời sống chính trị, công cộng; Quyền tham gia các hoạt động văn hóa, vui chơi, giải trí, thể thao; Quyền được hưởng mức sống thích đáng và được bảo trợ xã hội; Quyền được hỗ trợ để phục hồi chức năng; Quyền được hòa nhập và hỗ trợ để hòa nhập vào cộng đồng; Quyền được hỗ trợ trong việc đi lại. Trong khi có một số quyền có tính chất đặc thù, áp dụng riêng cho người khuyết tật (Quyền được hòa nhập và hỗ trợ để hòa nhập vào cộng đồng; Quyền được hỗ trợ trong việc đi lại; Quyền được hỗ trợ để phục hồi chức năng), hầu hết các quyền nêu trên áp dụng chung cho tất cả mọi người nhưng được nêu trong Công ước kèm theo những điểm nhấn và sự mở rộng nhằm bảo đảm chúng được áp dụng một cách phù hợp với đặc trưng dễ bị tổn thương của người khuyết tật.

2. Quyền sống

Quyền sống (Điều 10 và 11): Ngoài những nội dung thông thường, đối với người khuyết tật, quyền này còn bao gồm việc được bảo vệ và hỗ trợ trong những tình huống khẩn cấp như xung đột vũ trang, thảm họa thiên nhiên...( Điều 11). Quyền bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng (Điều 12): Ngoài những nội dung thông thường, đối với người khuyết tật, quyền này còn bao gồm việc được Nhà nước hỗ trợ để có thể thực thi năng lực pháp luật (Khoản 3) và được Nhà nước bảo vệ thích hợp trước mọi sự lạm dụng, đặc biệt trong các vấn đề về sở hữu, thừa kế, quản lý tài sản, tiếp cận với các nguồn tín dụng (Khoản 4 và 5). Thêm vào đó, quyền này còn đòi hỏi các quốc gia thành viên phải bảo đảm cho người khuyết tật được tiếp cận với luật pháp và hệ thống tư pháp một cách hiệu quả ( Điều 13). - Quyền tự do và an toàn cá nhân (Điều 14): Cũng như mọi người khác, người khuyết tật được hưởng quyền tự do và an toàn cá nhân, họ không bị tước đoạt tự do một cách trái pháp luật hoặc tùy tiện; tuy nhiên, Điều 14 còn nhấn mạnh không có trường hợp nào bị tước quyền tự do vì lý do khuyết tật, và nếu như một người khuyết tật bị tước tự do thì họ phải được bảo vệ bởi luật nhân quyền quốc tế một cách bình đẳng như với người khác, đồng thời, phải được đối xử phù hợp với Công ước này, trong đó bao gồm những sự điều chỉnh hợp lý. An toàn cá nhân bao gồm những khía cạnh ( đôi khi còn gọi là quyền) cụ thể như được tôn trọng, bảo vệ sự toàn vẹn về thể chất, tinh thần, không bị tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm, không bị bóc lột, lạm dụng và bạo lực. Người khuyết tật cũng có những quyền này nêu ở các Điều 15, 16, 17 của Công ước. Tuy nhiên, tinh thần chung của các điều này là các quốc gia thành viên phải dành cho người khuyết tật sự bảo vệ đặc biệt để chống lại những hành vi xâm hại đến an toàn cá nhân của họ. Ngoài ra, Điều 16 còn nêu ra những biện pháp cụ thể mà các quốc gia thành viên phải thực hiện để ngăn chặn những hành động bóc lột, bạo hành và lạm dụng người khuyết tật, kể cả trong môi trường gia đình và ngoài xã hội, trong đó bao gồm: tổ chức những hình thức hỗ trợ, giúp đỡ thích hợp cho người khuyết tật; tuyên truyền, giáo dục phòng ngừa; giám sát các chương trình phục vụ người khuyết tật; phục hồi và tái hòa nhập cho những người khuyết tật là nạn nhân của bóc lột, bạo hành hay lạm dụng; có các chính sách, pháp luật và cơ chế để phát hiện, điều tra, truy tố và trừng trị những kẻ bóc lột, bạo hành hay lạm dụng người khuyết tật.

3. Quyền được tôn trọng cuộc sống riêng tư

Quyền được tôn trọng cuộc sống riêng tư (Điều 22): Giống như những người bình thường khác, người khuyết tật cũng có quyền được bảo vệ trước những sự can thiệp tuỳ tiện, trái pháp luật vào cuộc sống riêng tư, gia đình, nhà riêng, thư tín, danh dự, uy tín, quan hệ..; tuy nhiên, ngoài những khía cạnh đó, Khoản 2 Điều 22 còn đề cập đến bí m ật thông tin về cá nhân, sức khỏe và việc phục hồi chức năng như là một trong những khía cạnh cấu thành sự riêng tư của người khuyết tật. Thêm vào đó, Công ước dành hẳn một điều ( Điều 23) đề cập đến vấn đề tôn trọng nhà ở và gia đình như là một trong những khía cạnh khác trong quyền về đời tư của người khuyết tật. Theo Điều này, các quốc gia thành viên có nghĩa vụ thực hiện các biện pháp thích hợp và hiệu quả để xóa bỏ sự phân biệt đối xử đối với người khuyết tật trong các vấn đề liên quan đến hôn nhân, gia đình, cha mẹ, họ hàng, trong đó bao gồm các khía cạnh cụ thể như: quyền được kết hôn và xây dựng gia đình trên cơ sở đồng thuận và tự nguyện; quyền quyết định về số con, khoảng cách giữa các lần sinh, tiếp cận thông tin, giáo dục về sinh sản và kế hoạch hóa gia đình; quyền duy trì chức năng sinh sản; quyền và trách nhiệm với việc bảo vệ, giám hộ, ủy thác, nhận nuôi con nuôi; quyền được Nhà nước hỗ trợ thích hợp để thực hiện trách nhiệm chăm sóc trẻ em. Ngoài ra, Điều này cũng quy định quyền bình đẳng của trẻ em khuyết tật trong gia đình; các biện pháp ngăn chặn sự giấu diếm, bỏ rơi, vô trách nhiệm, cách ly trẻ em khuyết tật; cấm tách trẻ em khỏi cha mẹ trên cơ sở sự khuyết tật của trẻ, của bố, mẹ hoặc của cả hai bố mẹ... Quyền tự do đi lại, tự do lựa chọn quốc tịch và nơi sinh sống (Điều 18): Đây là những quyền dân sự cơ bản áp dụng chung cho tất cả mọi người trong đó có người khuyết tật. Điều 18 nhấn mạnh, không ai có thể bị tước bỏ các quyền này chỉ vì lý do họ bị khuyết tật, cụ thể như trong các vấn đề như cấp, sở hữu, sử dụng các giấy tờ tùy thân, hộ chiếu, xuất nhập cảnh hay việc đăng ký khai sinh...

4. Quyền có mức sống thích đáng và được bảo trợ xã hội

Quyền có mức sống thích đáng và được bảo trợ xã hội (Điều 28): Theo Điều này, người khuyết tật cũng được hưởng các quyền này mà không bị phân biệt đối xử vì lý do khuyết tật. Không những vậy, các quốc gia thành viên phải thực thi những biện pháp cần thiết để bảo đảm cho người khuyết tật được tiếp cận với các dịch vụ xã hội hỗ trợ họ, các chương trình bảo trợ xã hội và giảm đói nghèo, các chương trình công cộng về nhà ở, hưu trí, phúc lợi xã hội. Quyền tự do biểu đạt, chính kiến, và tiếp cận thông tin ( Điều 21): Giống như mọi người bình thường, người khuyết tật có quyền tự do biểu đạt và tự do chính kiến, bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận, truyền đạt thông tin và ý kiến. Tuy nhiên, xuất phát từ đặc thù của người khuyết tật, Điều 21 yêu cầu các quốc gia thành viên phải bảo đảm quyền này bằng cách cung cấp, khuyến khích cung cấp và tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng những hình thức và công nghệ thích hợp nhằm giúp người khuyết tật tiếp cận thông tin, ví dụ như sử dụng ngôn ngữ ký hiệu, chữ Braille, các hình thức giao tiếp tăng cường hoặc thay thế, và mọi phương tiện, cách thức giao tiếp dễ tiếp cận khác tùy theo sự lựa chọn của họ. Quyền được giáo dục (Điều 24): Giống như người bình thường, người khuyết tật cũng có quyền được học tập. Tuy nhiên, xuất phát từ đặc thù của họ, Điều 24 yêu cầu các quốc gia phải bảo đảm cơ hội học tập bình đẳng cho người khuyết tật ở mọi cấp và hình thức giáo dục cũng như phải trợ giúp để người khuyết tật có những phương tiện, cơ sở vật chất, công nghệ và phương pháp giáo dục thích hợp. Điều này cũng nêu rõ, không được tách người khuyết tật ra khỏi hệ thống giáo dục chung của quốc gia cũng như không được tước bỏ quyền được giáo dục tiểu học miễn phí của trẻ em khuyết tật. Giáo dục với người khuyết tật cần trên cơ sở hòa nhập, có những điều chỉnh hợp lý phù hợp với nhu cầu của họ.

5. Quyền được chăm sóc sức khỏe

Quyền được chăm sóc sức khỏe (Điều 25): Giống như những người bình thường, người khuyết tật có quyền hưởng tiêu chuẩn y tế cao nhất có thể đạt được mà không có sự phân biệt nào trên cơ sở sự khuyết tật. Xuất phát từ đặc thù của người khuyết tật, Điều 25 yêu cầu các quốc gia thành viên bảo đảm cung cấp cho người khuyết tật không chỉ những dịch vụ chăm sóc y tế thông thường một cách bình đẳng như đối với những người khác, mà còn những dịch vụ y tế đặc biệt cần thiết cho việc phục hồi chức năng của họ. Điều này cũng quy định cấm phân biệt đối xử với người khuyết tật trong những vấn đề về bảo hiểm y tế, bảo hiểm nhân thọ, và cần giáo dục, đào tạo để nâng cao nhận thức về quyền và nhu cầu của người khuyết tật cho những nhân viên y tế. Quyền được hỗ trợ để phục hồi chức năng (Điều 26): Đây là một trong những quyền đặc thù của người khuyết tật, nhằm tạo điều kiện cho họ đạt được và duy trì sự độc lập ở mức tối đa năng lực nghề nghiệp, xã hội, tinh thần, thể chất và có thể hòa nhập trọn vẹn, hoàn toàn vào mọi khía cạnh của đời sống xã hội. Theo Điều 26, để đạt được mục đích đó, các quốc gia thành viên phải tổ chức, củng cố và mở rộng các dịch vụ và chương trình hỗ trợ phục hồi chức năng cho người khuyết tật, đặc biệt trên các lĩnh vực y tế, việc làm, giáo dục và xã hội, bảo đảm là những chương trình và dịch vụ như vậy phải sẵn có, tiện dụng cho mọi người khuyết tật, kể cả ở các vùng nông thôn và được cung cấp cho người khuyết tật ở giai đoạn sớm nhất có thể dựa trên nhu cầu và khả năng của từng cá nhân. Quyền về lao động và việc làm (Điều 27): Như mọi người bình thường, người khuyết tật có các quyền về lao động, việc làm. Điều 27 yêu cầu các quốc gia thành viên phải cấm sự phân biệt đối xử dựa trên cơ sở khuyết tật trong việc tuyển dụng, thuê và nhận vào làm việc, duy trì việc làm, thăng tiến, đào tạo nâng cao trình độ nghề nghiệp, điều kiện làm việc, an toàn và vệ sinh lao động, tham gia công đoàn... Thêm vào đó, các quốc gia cũng có nghĩa vụ thúc đẩy việc tuyển dụng người khuyết tật trong các khu vực công, những cơ hội tự tạo việc làm của người khuyết tật, hỗ trợ việc tiếp cận việc làm của họ ở khu vực tư nhân, bảo đảm có những sự điều chỉnh hợp lý với người khuyết tật ở nơi làm việc, bảo vệ người khuyết tật khỏi bị lao động cưỡng bức, bóc lột hay bị bóc lột sức lao động...