Trong quá trình giải quyết một vụ án hình sự, đặc biệt là đối với các tội phạm xâm phạm sở hữu hoặc các tội phạm có yếu tố tài sản, hoạt động định giá tài sản có vai trò then chốt. Kết luận định giá tài sản là một trong những căn cứ pháp lý quan trọng để cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng xác định dấu hiệu cấu thành tội phạm, định khung hình phạt, cũng như quyết định các vấns đề liên quan đến trách nhiệm dân sự, bồi thường thiệt hại.

Do tầm quan trọng này, pháp luật tố tụng hình sự quy định chặt chẽ trình tự, thủ tục định giá. Tuy nhiên, để đảm bảo tính khách quan, chính xác và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên liên quan, pháp luật cũng dự liệu cơ chế xem xét lại kết quả định giá. Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021 và 2025 (BLTTHS) và các văn bản hướng dẫn mới nhất, đặc biệt là Nghị định số 250/2025/NĐ-CP (có hiệu lực từ ngày 22/09/2025, thay thế Nghị định 30/2018/NĐ-CP), đã quy định cụ thể về các trường hợp, thẩm quyền và thủ tục định giá lại tài sản. Phân tích chi tiết các quy định pháp lý hiện hành về vấn đề định giá lại tài sản trong tố tụng hình sự.

1. Phân biệt định giá tài sản và định giá lại tài sản trong tố tụng hình sự

Để hiểu rõ về thủ tục định giá lại, trước hết cần làm rõ sự khác biệt căn bản giữa hoạt động định giá tài sản lần đầu và hoạt động định giá lại tài sản.

Định giá tài sản (lần đầu) là một hoạt động tố tụng được tiến hành khi cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án) xét thấy cần thiết phải xác định giá trị của một tài sản liên quan đến vụ án. Mục đích của hoạt động này là thu thập chứng cứ, làm rõ giá trị của tài sản bị chiếm đoạt, tài sản bị hủy hoại, hoặc các tài sản khác có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án hình sự. Căn cứ pháp lý cốt lõi cho hoạt động này là Điều 215 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015. Cơ quan tiến hành tố tụng sẽ ra văn bản yêu cầu định giá tài sản và gửi đến Hội đồng định giá tài sản có thẩm quyền để thực hiện.

Định giá lại tài sản là một hoạt động tố tụng thứ cấp, được thực hiện sau khi đã có kết luận định giá tài sản lần đầu. Đây là cơ chế pháp lý được thiết lập để xem xét, kiểm tra lại tính chính xác của kết luận định giá tài sản lần đầu khi phát sinh các căn cứ do pháp luật quy định, chẳng hạn như có nghi ngờ về tính khách quan hoặc tính chính xác của kết luận đó.

Quyền đề nghị định giá lại tài sản là một quyền tố tụng quan trọng của bị can, bị cáo, người bị hại và các bên liên quan, được quy định tại Điều 222 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015. Thủ tục và các trường hợp cụ thể để tiến hành định giá lại được quy định chi tiết tại Điều 218 BLTTHS 2015 và được hướng dẫn cụ thể tại Nghị định 250/2025/NĐ-CP.

2. Các trường hợp được phép định giá lại tài sản

Đây là nội dung trọng tâm mà bị can, bị cáo, người bị hại và các luật sư đặc biệt quan tâm. Việc xác định đúng các trường hợp được phép định giá lại là điều kiện tiên quyết để thực hiện quyền yêu cầu của mình.

Các văn bản pháp luật sau đây là nền tảng pháp lý trực tiếp quy định về việc định giá lại tài sản trong tố tụng hình sự:

Bộ luật Tố tụng Hình sự số 101/2015/QH13 (BLTTHS 2015):

  • Điều 222 BLTTHS 2015: Quy định về quyền của bị can, bị cáo, bị hại và người tham gia tố tụng khác đối với kết luận định giá tài sản. Khoản 4 Điều này nêu rõ các chủ thể này có quyền "đề nghị định giá lại tài sản".
  • Điều 218 BLTTHS 2015: Quy định trực tiếp về 02 trường hợp (hoàn cảnh) tiến hành định giá lại, bao gồm: (1) khi có nghi ngờ kết luận định giá lần đầu và (2) khi có mâu thuẫn giữa các kết luận định giá.

Nghị định số 250/2025/NĐ-CP: Đây là văn bản do Chính phủ ban hành ngày 22/09/2025, quy định chi tiết việc thành lập, hoạt động của Hội đồng định giá tài sản và trình tự, thủ tục định giá tài sản trong tố tụng hình sự. Nghị định này chính thức thay thế Nghị định số 30/2018/NĐ-CP và Nghị định số 97/2019/NĐ-CP. Một trong những mục tiêu quan trọng của Nghị định 250/2025/NĐ-CP là "siết chặt quy trình định giá lại tài sản để chấm dứt 'vòng lặp định giá lại'". Văn bản này làm rõ và chi tiết hóa các trường hợp định giá lại tại Điều 26 , giải quyết các vướng mắc trong thực tiễn áp dụng Nghị định 30/2018/NĐ-CP trước đây.

3. Các trường hợp được định giá lại tài sản

Căn cứ theo Điều 218 BLTTHS 2015 và được chi tiết hóa tại Điều 26 Nghị định 250/2025/NĐ-CP, pháp luật hiện hành quy định hai (02) trường hợp được phép tiến hành định giá lại tài sản như sau:

3.1. Định giá lại lần đầu 

Đây là trường hợp định giá lại phổ biến nhất, được thực hiện khi có sự không tin tưởng vào kết quả của lần định giá đầu tiên. Theo Khoản 1 Điều 218 BLTTHS 2015 và Khoản 1 Điều 26 Nghị định 250/2025/NĐ-CP Việc định giá lại được tiến hành khi cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng "có đầy đủ căn cứ nghi ngờ về kết luận định giá lần đầu".

Thuật ngữ "căn cứ nghi ngờ" phải được hiểu là các lý do khách quan, có cơ sở pháp lý, chứ không đơn thuần là sự không đồng ý mang tính chủ quan. Các căn cứ này có thể bao gồm:

  • Nghi ngờ về việc áp dụng sai phương pháp định giá, thu thập thông tin thị trường không chính xác.
  • Nghi ngờ về trình tự, thủ tục tiến hành định giá (ví dụ: không khảo sát thực tế tài sản, khảo sát sơ sài).
  • Nghi ngờ về tính vô tư, khách quan của thành viên Hội đồng định giá (ví dụ: thành viên Hội đồng thuộc một trong các trường hợp không được tham gia định giá theo quy định tại Điều 5 Nghị định 250/2025/NĐ-CP).
  • Khi cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu định giá lại theo trường hợp này, họ có trách nhiệm cung cấp "tài liệu chứng minh cụ thể căn cứ, lý do nghi ngờ" cho Hội đồng định giá.

Thẩm quyền thực hiện: Việc định giá lại lần đầu sẽ do Hội đồng định giá tài sản cấp trên trực tiếp thực hiện. Ví dụ, nếu Hội đồng định giá cấp xã định giá lần đầu, thì Hội đồng định giá cấp tỉnh sẽ thực hiện định giá lại.

3.2. Định giá lại lần thứ hai

Đây là cơ chế pháp lý để giải quyết tình huống bế tắc khi hai kết luận định giá đầu tiên (lần đầu và lần một) cho ra các kết quả mâu thuẫn nhau. Theo Khoản 2 Điều 218 BLTTHS 2015 và Khoản 2 Điều 26 Nghị định 250/2025/NĐ-CP việc định giá lại lần thứ hai chỉ được thực hiện khi thỏa mãn đồng thời các điều kiện sau:

  • Tồn tại "mâu thuẫn giữa kết luận định giá lần đầu và kết luận định giá lại [lần đầu] về giá của tài sản".
  • Việc định giá lần đầu và định giá lại lần đầu đều tuân thủ đúng nguyên tắc, trình tự, thủ tục định giá (theo quy định của Nghị định 250/2025/NĐ-CP).
  • Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng tiếp tục có đầy đủ căn cứ nghi ngờ về kết luận định giá lại (lần đầu).

 Nếu một trong hai lần định giá trước đó bị xác định là có vi phạm thủ tục, thì sẽ không tiến hành định giá lại lần hai mà phải xử lý theo trườngh hợp vi phạm thủ tục (sẽ nêu ở mục dưới). Thẩm quyền thực hiện do Hội đồng định giá tài sản có thẩm quyền thực hiện, được quy định chi tiết tại Nghị định 250/2025/NĐ-CP (ví dụ: Hội đồng cấp tỉnh định giá lại lần hai nếu có mâu thuẫn giữa kết luận của cấp xã và cấp tỉnh).

3.3. Các trường hợp đặc biệt không được coi là định giá lại

Nghị định 250/2025/NĐ-CP đã làm rõ hai trường hợp thường bị nhầm lẫn, nhưng không được coi là "định giá lại tài sản" theo quy định tại Điều 26:

  • Trường hợp Hội đồng định giá lần đầu vi phạm thủ tục: Nếu Hội đồng định giá chưa thực hiện đúng trình tự, thủ tục, hoặc có thành viên thuộc trường hợp bị cấm tham gia, thì việc định giá sẽ do chính Hội đồng đã được thành lập đó thực hiện lại (sau khi đã khắc phục vi phạm, ví dụ như thay thế thành viên). Đây không phải là định giá lại do Hội đồng cấp trên thực hiện.
  • Trường hợp thay đổi thông tin tài sản hoặc nội dung yêu cầu: Nếu có sự thay đổi về đặc điểm tài sản (ví dụ: phát hiện tài sản có thêm tính năng mới) hoặc thay đổi về nội dung yêu cầu định giá, cơ quan tiến hành tố tụng sẽ yêu cầu thành lập Hội đồng định giá tài sản mới để định giá. Đây được coi là một lần định giá mới, không phải định giá lại.

Để hỗ trợ các bên liên quan dễ dàng tra cứu, các trường hợp định giá lại theo quy định mới nhất được tổng hợp trong bảng sau:

Lần định giá Căn cứ pháp lý Điều kiện chính Thẩm quyền thực hiện
Định giá lại Lần 1

Khoản 1 Điều 218 BLTTHS

Khoản 1 Điều 26 NĐ 250/2025

Có căn cứ nghi ngờ kết luận định giá lần đầu.

Hội đồng định giá tài sản cấp trên trực tiếp.

Định giá lại Lần 2

Khoản 2 Điều 218 BLTTHS

Khoản 2 Điều 26 NĐ 250/2025

Có mâu thuẫn về giá giữa kết luận lần đầu và kết luận định giá lại lần 1 (và thỏa mãn các điều kiện khác).

Hội đồng định giá tài sản có thẩm quyền (do NĐ 250/2025 quy định chi tiết)

4. Quy trình và thủ tục yêu cầu định giá lại tài sản

Việc nắm rõ quy trình và thủ tục là yếu tố quyết định để các chủ thể có thể thực hiện hiệu quả quyền yêu cầu định giá lại của mình. Pháp luật tố tụng hình sự quy định hai nhóm chủ thể có quyền liên quan đến việc định giá lại tài sản:

  • Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng (CQTHTT): Bao gồm Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án. Các cơ quan này có quyền tự mình ra văn bản yêu cầu định giá lại nếu trong quá trình giải quyết vụ án, họ phát hiện có căn cứ nghi ngờ hoặc mâu thuẫn như đã phân tích.
  • Các chủ thể tham gia tố tụng: Bao gồm người bị buộc tội (bị can, bị cáo), người bị hại, và những người tham gia tố tụng khác (như người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan). Các chủ thể này thực hiện quyền của mình thông qua hình thức đề nghị CQTHTT xem xét và ra văn bản yêu cầu định giá lại.

4.1. Thủ tục yêu cầu định giá lại tài sản 

Đối với bị can, bị cáo, người bị hại hoặc luật sư của họ, thủ tục đề nghị định giá lại tài sản bao gồm các bước cơ bản sau:

Bước 1: Soạn thảo Văn bản/Đơn đề nghị

Người có yêu cầu cần chuẩn bị một văn bản chính thức (thường gọi là "Đơn đề nghị định giá lại tài sản") gửi đến CQTHTT đang thụ lý, giải quyết vụ án (ví dụ: Cơ quan Cảnh sát điều tra A, Viện kiểm sát nhân dân B, Tòa án nhân dân C).

Bước 2: Nêu rõ lý do và căn cứ pháp lý

Trong đơn, người đề nghị phải trình bày rõ ràng lý do và căn cứ đề nghị định giá lại. Nội dung này bắt buộc phải viện dẫn và chứng minh rằng trường hợp của mình thuộc một trong hai (02) trường hợp được phép định giá lại theo Điều 218 BLTTHS và Điều 26 Nghị định 250/2025/NĐ-CP (tức là có căn cứ nghi ngờ hoặc có mâu thuẫn).

Bước 3: Cung cấp tài liệu chứng minh 

Để tăng tính thuyết phục cho đơn đề nghị, người đề nghị nên chủ động thu thập và gửi kèm các tài liệu, chứng cứ (nếu có) để chứng minh cho "căn cứ nghi ngờ" của mình. Ví dụ: các báo giá thị trường khác, các bằng chứng về việc thành viên Hội đồng vi phạm quy định....

Bước 4: Tiếp nhận và xử lý của CQTHTT

Sau khi nhận được đơn đề nghị, CQTHTT có trách nhiệm xem xét:

  • Trường hợp chấp nhận: Nếu CQTHTT xét thấy đề nghị là có căn cứ, họ sẽ ra "Văn bản yêu cầu định giá lại tài sản" và gửi đến Hội đồng định giá có thẩm quyền (Hội đồng cấp trên) để thực hiện.
  • Trường hợp không chấp nhận: Nếu CQTHTT xét thấy đề nghị không có căn cứ, họ phải thông báo cho người đã đề nghị bằng văn bản và nêu rõ lý do. Đây là một quyền tố tụng quan trọng, cho phép người đề nghị biết được lý do từ chối và có thể thực hiện quyền khiếu nại (nếu có) theo quy định của pháp luật.

4.2. Thời hạn yêu cầu và thời hạn thực hiện định giá lại tài sản

Pháp luật tố tụng hình sự không quy định một thời hạn cụ thể (ví dụ: 7 ngày, 15 ngày) cho việc nộp đơn đề nghị định giá lại. Tuy nhiên, để đảm bảo quyền lợi, đề nghị này phải được thực hiện trong suốt quá trình tố tụng (từ giai đoạn điều tra, truy tố đến xét xử) và phải được nộp kịp thời để CQTHTT có đủ thời gian xem xét, quyết định trước khi kết thúc giai đoạn tố tụng đó.

Khi CQTHTT đã ban hành "Văn bản yêu cầu định giá lại tài sản", thì thời hạn mà Hội đồng định giá phải hoàn thành việc định giá lại được thực hiện theo quy định chung về thời hạn định giá. Các văn bản pháp luật hiện hành đều thống nhất viện dẫn đến Điều 216 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 để xác định thời hạn này.

5. Hậu quả pháp lý và các vấn đề liên quan đến định giá lại

Bất kỳ kết luận định giá nào (lần đầu hay định giá lại) đều được coi là một nguồn chứng cứ quan trọng trong vụ án hình sự. Cơ quan tiến hành tố tụng sẽ sử dụng kết luận này, cùng với các chứng cứ khác, để làm căn cứ giải quyết vụ án.

Nếu kết luận định giá lại (lần 1) được ban hành, và nó có giá trị khác với kết luận lần đầu, CQTHTT sẽ đánh giá tính hợp pháp, tính khách quan của cả hai kết luận để quyết định sử dụng kết luận nào. Thông thường, nếu việc định giá lại được thực hiện đúng thủ tục bởi Hội đồng cấp trên, kết luận định giá lại sẽ có trọng lượng chứng minh cao hơn.

Đây là vấn đề pháp lý phức tạp nhất và đã được pháp luật (cả BLTTHS và Nghị định 250/2025/NĐ-CP) quy định cơ chế giải quyết dứt điểm. Kịch bản xảy ra khi có mâu thuẫn về giá trị tài sản giữa Kết luận định giá lần đầu và Kết luận định giá lại lần thứ nhất (và thỏa mãn các điều kiện như đã nêu tại Trường hợp 2). CQTHTT sẽ ra văn bản yêu cầu định giá lại lần thứ hai. Khoản 2 Điều 218 BLTTHS 2015 quy định rõ ràng: "Kết luận định giá lại trong trường hợp này [lần thứ hai] được sử dụng để giải quyết vụ án.".

Quy định này mang tính chất chấm dứt mọi tranh cãi về giá trị tài sản. Dù kết luận định giá lại lần thứ hai cao hơn, thấp hơn hay nằm giữa hai kết luận trước, CQTHTT sẽ sử" dụng kết luận cuối cùng này làm căn cứ pháp lý để xác định tội danh và khung hình phạt. Sẽ không có việc định giá lại lần thứ ba.

Kết luận

Định giá lại tài sản là một cơ chế pháp lý quan trọng trong tố tụng hình sự, đảm bảo quyền của bị can, bị cáo, người bị hại và các bên liên quan được xem xét một cách khách quan, toàn diện khi có nghi ngờ về tính chính xác của kết luận định giá ban đầu.

Việc hiểu rõ các trường hợp, thủ tục và giới hạn của việc định giá lại, như được quy định tại Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015  và được chi tiết hóa trong Nghị định 250/2025/NĐ-CP , là điều kiện tiên quyết để các chủ thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Pháp luật hiện hành quy định chặt chẽ chỉ 02 trường hợp được định giá lại  và giới hạn số lần định giá lại tối đa là 02 lần (tổng cộng 03 kết luận), trong đó kết luận định giá lại lần thứ hai sẽ là kết luận cuối cùng được sử dụng để giải quyết vụ án. Quy định này nhằm đảm bảo tính dứt điểm, tránh việc lạm dụng thủ tục này để kéo dài vụ án, góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động tố tụng hình sự. 

Mọi vướng mắc pháp lý vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162 để được đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm của Công ty luật Minh Khuê tư vấn, giải đáp chi tiết.Chúng tôi rất hân hạnh khi nhận được sự hợp tác của quý khách hàng. Xin chân thành cảm ơn!