1. Đối tượng đóng kinh phí công đoàn

Theo Điều 4 của Nghị định số 191/2013/NĐ-CP, các đối tượng bắt buộc phải đóng kinh phí công đoàn theo quy định tại khoản 2, Điều 26 của Luật Công đoàn năm 2012 bao gồm các cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp, không phân biệt việc họ đã có tổ chức công đoàn cơ sở hay chưa. Cụ thể, các đối tượng này bao gồm:

- Các cơ quan nhà nước, bao gồm cả Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn, và các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang nhân dân.

- Các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, và tổ chức xã hội - nghề nghiệp.

- Các đơn vị sự nghiệp công lập và ngoài công lập.

- Các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, được thành lập và hoạt động theo các quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2020 và Luật Đầu tư năm 2020.

- Các hợp tác xã và liên hiệp hợp tác xã được thành lập và hoạt động theo Luật Hợp tác xã năm 2012.

- Các cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam có liên quan đến hoạt động công đoàn, bao gồm cả các văn phòng điều hành của các bên nước ngoài trong hợp đồng hợp tác kinh doanh tại Việt Nam, nếu họ sử dụng lao động là công dân Việt Nam.

- Các tổ chức khác có sử dụng lao động theo quy định của pháp luật về lao động.

 

2. Mức đóng kinh phí công đoàn

Theo Quyết định số 8086/QĐ-TLĐ năm 2023, từ năm 2024, các công đoàn cơ sở sẽ có quyền sử dụng 70% tổng số thu đoàn phí công đoàn và 75% tổng số thu kinh phí công đoàn. Điều này có nghĩa là phần đoàn phí công đoàn thu được vượt mức quy định trong Quyết định số 1908/QĐ-TLĐ năm 2016, cùng với các nguồn thu khác, sẽ được giữ lại 100% cho công đoàn cơ sở để sử dụng. Như vậy, vào năm 2024, công đoàn cơ sở sẽ được phép giữ lại 70% tổng số thu từ đoàn phí công đoàn và 75% tổng số thu từ kinh phí công đoàn. Điều này tạo điều kiện thuận lợi hơn cho công đoàn cơ sở trong việc tự chủ tài chính và nâng cao hiệu quả hoạt động.

 

3. Phương thức đóng kinh phí công đoàn

Theo Điều 6 của Nghị định số 191/2013/NĐ-CP, phương thức đóng kinh phí công đoàn được quy định như sau:

- Đối với các cơ quan và đơn vị được ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ hoặc một phần kinh phí hoạt động thường xuyên, việc đóng kinh phí công đoàn phải được thực hiện hàng tháng, đồng thời với việc đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc cho người lao động. Kho bạc Nhà nước nơi cơ quan hoặc đơn vị mở tài khoản giao dịch sẽ căn cứ vào giấy rút kinh phí công đoàn để kiểm soát chi và chuyển tiền vào tài khoản của tổ chức công đoàn tại ngân hàng.

- Đối với các tổ chức và doanh nghiệp, việc đóng kinh phí công đoàn cũng được thực hiện hàng tháng, cùng thời điểm với việc đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc cho người lao động.

- Đối với các tổ chức và doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp, nơi mà việc trả lương phụ thuộc vào chu kỳ sản xuất hoặc kinh doanh, kinh phí công đoàn có thể được đóng theo chu kỳ tháng hoặc quý. Việc đóng này sẽ được thực hiện cùng thời điểm với việc đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc cho người lao động, trên cơ sở đã đăng ký với tổ chức công đoàn.

 

4. Nguồn đóng kinh phí công đoàn

Theo Điều 7 của Nghị định số 191/2013/NĐ-CP, nguồn đóng kinh phí công đoàn được quy định như sau:

- Đối với các cơ quan và đơn vị được ngân sách nhà nước đảm bảo toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên, ngân sách nhà nước sẽ đảm bảo toàn bộ nguồn đóng kinh phí công đoàn. Khoản đóng này được dự toán trong ngân sách chi thường xuyên hàng năm của cơ quan hoặc đơn vị, theo các quy định pháp luật về phân cấp quản lý ngân sách nhà nước.

- Đối với các cơ quan và đơn vị được ngân sách nhà nước bảo đảm một phần kinh phí hoạt động thường xuyên, ngân sách nhà nước sẽ đảm bảo nguồn đóng kinh phí công đoàn dựa trên quỹ tiền lương được sử dụng làm căn cứ để đóng bảo hiểm xã hội cho số biên chế hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Khoản này cũng được dự toán trong ngân sách chi thường xuyên hàng năm của cơ quan hoặc đơn vị, theo các quy định pháp luật về phân cấp quản lý ngân sách nhà nước.

Phần kinh phí công đoàn còn lại mà cơ quan hoặc đơn vị phải đóng sẽ được tự bảo đảm theo quy định tại các khoản 3 và 4, Điều 7 của Nghị định số 191/2013/NĐ-CP.

- Đối với các doanh nghiệp và đơn vị hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, và dịch vụ, khoản đóng kinh phí công đoàn sẽ được hạch toán vào chi phí sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong kỳ.

- Đối với các cơ quan, tổ chức, và đơn vị khác, khoản đóng kinh phí công đoàn sẽ được sử dụng từ nguồn kinh phí hoạt động của chính cơ quan, tổ chức hoặc đơn vị đó, theo quy định của pháp luật.

 

5. Các trường hợp không phải đóng kinh phí công đoàn?

Theo Điều 26 của Luật Công đoàn năm 2012, tài chính công đoàn được quy định như sau: Tài chính công đoàn bao gồm các nguồn thu sau đây:

1. Đoàn phí công đoàn, được đóng bởi các đoàn viên công đoàn theo quy định của Điều lệ Công đoàn Việt Nam; ......

Ngoài các quy định chung về tài chính công đoàn, khoản 6, Điều 23 trong Quy định quản lý tài chính, tài sản công đoàn, bao gồm việc thu, phân phối nguồn thu và các quy định về thưởng, phạt liên quan đến tài chính công đoàn, được ban hành kèm theo Quyết định số 1908/QĐ-TLĐ năm 2016, quy định cụ thể về đoàn phí như sau:

- Đối tượng, mức đóng, và tiền lương làm căn cứ đóng đoàn phí được quy định như sau: ......

- Đoàn viên công đoàn hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội từ một tháng trở lên sẽ không phải đóng đoàn phí trong thời gian hưởng trợ cấp. Đồng thời, đoàn viên công đoàn không có việc làm, không có thu nhập, hoặc nghỉ việc riêng từ một tháng trở lên mà không hưởng tiền lương cũng không phải đóng đoàn phí trong thời gian đó.

Tóm lại, người lao động sẽ không phải đóng đoàn phí trong các trường hợp sau:

- Người lao động không phải là đoàn viên công đoàn (không tham gia công đoàn).

- Đoàn viên công đoàn đang hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội từ một tháng trở lên.

- Đoàn viên công đoàn không có việc làm và không có thu nhập.

- Đoàn viên công đoàn nghỉ việc riêng từ một tháng trở lên mà không nhận lương trong thời gian đó.

 

6. Ý nghĩa các quy định trên về Các trường hợp không phải đóng kinh phí công đoàn?

Các quy định về các trường hợp không phải đóng kinh phí công đoàn, như được nêu trong Điều 26 của Luật Công đoàn 2012 và Quyết định số 1908/QĐ-TLĐ năm 2016, có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo sự công bằng và hỗ trợ cho đoàn viên công đoàn trong các hoàn cảnh đặc biệt. Dưới đây là ý nghĩa của các quy định này: Hỗ trợ tài chính cho các đoàn viên công đoàn gặp khó khăn: Những quy định này giúp bảo vệ quyền lợi của đoàn viên công đoàn khi họ gặp phải tình trạng khó khăn tạm thời, như không có thu nhập hoặc đang hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội. Việc miễn đóng đoàn phí trong các trường hợp này giúp giảm bớt gánh nặng tài chính cho các cá nhân đang trong thời gian gặp khó khăn. Khuyến khích sự tham gia và gắn bó của đoàn viên công đoàn: Bằng cách miễn hoặc giảm nghĩa vụ đóng đoàn phí trong những trường hợp cụ thể, các quy định này khuyến khích sự tham gia và gắn bó lâu dài của người lao động với tổ chức công đoàn. Điều này cũng giúp duy trì sự ổn định và đoàn kết trong tổ chức công đoàn, tạo điều kiện cho sự phát triển bền vững của tổ chức. Đảm bảo công bằng và hợp lý trong việc thu đoàn phí: Quy định rõ ràng các trường hợp không phải đóng đoàn phí giúp đảm bảo rằng việc thu phí công đoàn không gây ra bất công hoặc khó khăn không cần thiết cho những người lao động không có khả năng đóng phí trong một khoảng thời gian nhất định. Điều này giúp bảo đảm tính công bằng và hợp lý trong chính sách tài chính của công đoàn. Tạo sự linh hoạt trong quản lý tài chính công đoàn: Việc quy định cụ thể các trường hợp miễn đóng phí công đoàn giúp các cơ quan và tổ chức công đoàn có thể quản lý tài chính một cách linh hoạt hơn, đồng thời vẫn đảm bảo rằng các đoàn viên công đoàn trong các hoàn cảnh đặc biệt không bị ảnh hưởng tiêu cực. Xây dựng niềm tin và sự tin cậy trong công đoàn: Khi công đoàn thể hiện sự quan tâm đến tình trạng của các đoàn viên trong thời gian khó khăn, điều này giúp xây dựng niềm tin và sự tin cậy từ phía các thành viên, từ đó tăng cường sự hỗ trợ và đồng thuận trong tổ chức công đoàn. Tóm lại, các quy định về các trường hợp không phải đóng kinh phí công đoàn không chỉ giúp bảo vệ quyền lợi của đoàn viên công đoàn trong các hoàn cảnh khó khăn mà còn góp phần duy trì sự công bằng, hỗ trợ và tạo niềm tin trong tổ chức công đoàn.