1. Mục đích của việc "tinh giản biên chế"

Để có thể đáp ứng được sự phát triển của đất nước, đáp ứng được tiến trình xã hội hóa và nhu cầu giải quyết công việc của cơ quan nước ngày một nhiều và ngày càng phức tạp hơn thì việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; thu hút những người có đức, có tài và có tâm vào hoạt động công vụ trong các cơ quang Đảng, nhà nước và tổ chức chính trị - xã hội là hết sức cần thiết và rất quan trọng.

Không những vậy, việc tinh giản biên chế còn có mục đích để: bảo đảm được sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Cải cách hành chính, cải cách chế độ công vụ, công chức; nâng cao chất lượng khu vực dịch vụ công và đẩy mạnh xã hội hóa sự nghiệp công. 

Tinh giản biên chế sẽ đi đôi với việc cải cách tiền lương và đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, đối mới phương thức lãnh đạo của Đảng. Cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức hợp lý về trình độ chuyên môn, ngạch, chức danh nghề nghiệp về độ tuổi, giới tính, dân tộc.

 

2. Đối tượng áp dụng chính sách tinh giản biên chế

Thứ nhất, cán bộ, công chức từ trung ương đến cấp xã;

Thứ hai, viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập;

Thứ ba, người làm việc theo chế độ hợp đồng lao động không xác định thời hạn theo nghị định 68/2000/NĐ-CP về thực hiện chế độ hợp đồng một số loại công việc trong cơ quan hành chính Nhà nước, đơn vị sự nghiệp và các quy định khác;

Thứ tư, chủ tịch công ty, thành viên Hội đồng thành viên, Tổng giám đốc, phó Tổng giám đốc, giám đốc, Phó giám đốc, Kế toán trưởng, kiểm sát viên trong các công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước hoặc do tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội làm chủ sở hữu;

Thứ năm, những người là cán bộ, công chức được cơ quan có thẩm quyền cử làm người đại diện theo ủy quyền đối với phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp có vốn nhà nước.

Thứ sáu, người làm việc trong biên chế được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao tại các hội.

 

3. Đối tương chưa áp dụng việc tinh giản biên chế

Một là, những người đang trong thời gian ốm đau có xác nhận của cơ quan y tế có thẩm quyền;

Hai là, những người đang trong thời gian mang thai, nghỉ thai sản hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi.

Ba là, những người đang trong thời gian xem xét kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.

 

4. Các trường hợp không áp dụng giải quyết tinh giản biên chế

Thông tư 47/2016/TT-BQP quy định rõ những trường hợp không được áp dụng giải quyết tinh giản biên chế, đó là:

- Công nhân, viên chức quốc phòng có 02 năm liên tiếp được đánh giá, phân loại không hoàn thành nhiệm vụ, thực hiện giải quyết chế độ, chính sách thôi việc theo quy định Nghị định 46/2010/NĐ-CP về thôi việc và thủ tục nghỉ hưu đối với công chức;

- Công nhân, viên chức quốc phòng có trình độ chuyên môn đào tạo phù hợp với quy định của cơ quan có thẩm quyền về tiêu chuẩn trình độ đào tạo đối với vị trí làm hiện đang đảm nhiệm, nhưng đưa vào diện tinh giản do chưa đạt trình độ chuẩn.

- Công nhân, viên chức quốc phòng công tác tại các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đang hoạt động bình thường, nhưng đưa vào diện tinh giản dôi dư do sắp xếp tổ chức.

- Công nhân, viên chức quốc phòng có chuyên ngành đào tạo chưa phù hợp với vị trí việc làm hiện đang đảm nhiệm, nhưng luôn hoàn thành tốt và xuất sắc nhiệm vụ được giao.

- Công nhân, viên chức quốc phòng có trình độ chuyên môn đào tạo cao hơn quy định của cơ quan có thẩm quyền về tiêu chuẩn trình độ với vị trí việc làm hiện đang đảm nhiệm, đưa vào diện tinh giản dôi dư do cơ cấu lại công nhân, viên chức quốc phòng.

- Công nhân, viên chức quốc phòng có lý do nghỉ ốm, nhưng chưa đáp ứng được quy định có số ngày nghỉ tối thiểu bằng số ngày nghỉ tối đa được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội.

 

5. Điều kiện tinh giản biên chế đối với cán bộ, công chức, viên chức

Cán bộ, công chức, viên chức trong biên chế và cán bộ, công chứ cấp xã hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc quỹ tiền lương của đơn vị sự nghiệp theo quy định pháp luật (sau đây gọi chung là cán bộ, công chức, viên chức) thuộc đối tượng tinh giản biên chế nếu thuộc một trong các trường hợp sau: (theo quy định tại Nghị định 108/2014/NĐ-CP được sửa đổi bới nghị định 143/2020/NĐ-CP).

Trường hợp 1: Dôi dư do rà soát, sắp xếp lại tổ chức bộ máy, nhân sự theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền của Đảng, Nhà nước hoặc do đơn vị sự nghiệp công lập sắp xếp lại tổ chức bộ máy, nhân sự để thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy và nhân sự;

Trường hợp 2: Dôi dư do cơ cấu lại cán bộ, công chức, viên chức theo vị trí việc làm, nhưng không thể bố trí, sắp xếp được việc làm khác.

Trường hợp 3: Chưa đạt trình độ đào tạo theo tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ quy định đối với vị trí việc làm đang đảm nhiệm, nhưng không có vị trí việc làm khác phù hợp để bố trí và không thể bố trí đào tạo lại để chuẩn hóa về chuyên môn.

Trường hợp 4: Có chuyên ngành đào tạo không phù hợp với vị trí việc làm hiện đang đảm nhiệm nên bị hạn chế về năng lực hoàn thành công việc được giao, nhưng không thể bố trí việc làm khác.

Trường hợp 5: Có hai năm liên tiền liền kề tại thời điểm xét tinh giản biên chế, cán bộ, công chức được phân loại, đánh giá xếp vào mức hoàn thành nhiệm vụ nhưng cò hạn chế về năng lực hoặc có 01 năm hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng lực và 01 năm không hoàn thành nhiệm vụ nhưng không thể bố trí việc làm khác phù hợp.

Trường hợp 6: Có 02 năm liên tiếp tiền kề tại thời điểm xét tinh giản biên chế, viên chức có 01 năm được phân loại đánh giá xếp vào mức hoàn thành nhiệm vụ và 01 năm không hoàn thành nhiệm vụ nhưng không thể bố trí việc làm khác phù hợp.

Trường hợp 7: Có 02 năm liên kề tại thời điểm xét tinh giản biến chế, mỗi năm có tổng số ngày nghỉ làm việc là số ngày nghỉ tối đa do ốm đau theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội, có xác nhận của cơ sở khám chữa bệnh và cơ quan bảo hiểm xã hội chi trả trợ cấp ốm đau theo quy định pháp luật hiện hành.

Trường hợp 8: Những người đã là cán bộ, công chức, viên chức lãnh đạo, quản lý thôi giữ chức vụ do sắp xếp tổ chức bộ máy theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền, tự nguyện thực hiện tinh giản biên chế và được cơ quan, đơn vị trực tiếp quản lý đồng ý.

 

6. Hiệu quả của công tác "tinh giản biên chế"

- Việc tinh giản biện chế đã phần nào đem lại kết quả nhất định, chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan, đơn vị được rà soát, bổ sung, hoàn thiện theo các quy định của Đảng, nhà nước, phù hợp với thực tiễn hiện nay, hạn chế được sự chồng chéo.

- Các tỉnh đã thực hiện được cơ chế một cửa, một cửa liên thông, nhiều UBND tỉnh thành lập được trung tâm phục vụ hành chính công tỉnh.

- Các cơ quan, tổ chức bộ máy, đơn vị từ tỉnh đến cơ sở tiếp tục được củng cố, kiện toàn sắp xếp theo đúng hướng dẫn, chỉ đạo của Trung ương, của tỉnh ủy, UBND tỉnh, bảo đảm tinh gọn, giảm đầu mối và thực hiện đúng, đủ chức năng, nhiệm vụ. 

- Từng bước nâng cao chất lương đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; Nâng cao chất lượng hoạt động, hiệu lực, hiệu quả của các cơ quan, đơn vị; góp phần quan trọng trong việc đổi mới hệ thống hành chính trong thời điểm hiện nay cũng như trong thời điểm tới.

- Việc sắp xếp, bố trí, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức gắn với vị trí việc làm đã tạo động lực phát huy năng lực, sở trường công tác.

- Trình độ cán bộ, công chức, viên chức trong những năm qua được nâng lên, đặc biệt là những người có trình độ thạc sĩ, tiến sĩ, tăng, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ và hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của cơ quan, phục vụ hiệu quả sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của địa phương, của đất nước.

Trên đây là bài viết mà Luật Minh Khuê phân tích dưới góc độ pháp luật, còn nội dung nào chưa rõ, cần giải thích thêm, mời bạn đọc liên hệ ngay với bộ phận tổng đài: 1900.6162 để được hỗ trợ chi tiết, tỉ mỉ hơn. Trân trọng cảm ơn!