Luật sư trả lời:

1. Căn cứ pháp lý:

Bộ luật lao động năm 2012

2. Nội dung tư vấn:

Trợ cấp thôi việc được chi trả khi người lao động đáp ứng điều kiện sau: 

2.1. Việc chấm dứt hợp đồng rơi vào một trong các trường hợp chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 và 10 Điều 36 của Bộ luật Lao động:

Điều 36. Các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động

1. Hết hạn hợp đồng lao động, trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều 192 của Bộ luật này.

2. Đã hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động.

3. Hai bên thoả thuận chấm dứt hợp đồng lao động.

5. Người lao động bị kết án tù giam, tử hình hoặc bị cấm làm công việc ghi trong hợp đồng lao động theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Toà án.

6. Người lao động chết, bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết.

7. Người sử dụng lao động là cá nhân chết, bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết; người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động.

9. Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 37 của Bộ luật này.

10. Người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật này; người sử dụng lao động cho người lao động thôi việc do thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế hoặc do sáp nhật, hợp nhất, chia tách doanh nghiệp, hợp tác xã.

2.2. Người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên

Về mức hưởng: mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương. Để tính số năm làm việc được hưởng trợ cấp thôi việc, sẽ thực hiện theo công thức sau:

Tổng thời gian làm việc thực tế cho người sử dụng lao động - (thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc); hay nói cách khác trợ cấp thôi việc được trả cho khoảng thời gian người lao động làm việc thực tế cho người sử dụng lao động mà chưa tham gia bảo hiểm thất nghiệp.

>> Xem thêm:  Hỏi đáp về luật lao động khi bị điều chuyển công việc không đúng chuyên môn ?

Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc của người lao động được tính theo năm (đủ 12 tháng), trường hợp có tháng lẻ thì từ đủ 01 tháng đến dưới 06 tháng được tính bằng 1/2 năm; từ đủ 06 tháng trở lên được tính bằng 01 năm làm việc. 

Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc.

Bạn có thể áp dụng công thức tính trợ cấp thôi việc để xem trường hợp của mình có đủ điều kiện hưởng trợ cấp thôi việc hay không. Nếu trường hợp đủ điều kiện bạn có thể gửi văn bản hoặc trực tiếp về đơn vị sử dụng lao động trước đây để yêu cầu giải quyết trợ cấp.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật bảo hiểm xã hội về trợ cấp thôi việc trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi số: 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Lao động - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Tư vấn việc trả trợ cấp thôi việc cho NLĐ chấm dứt HĐLĐ ?