1. Vụ Amco kiện Inđônêxia

a. Khái quát Vụ Amco kiện Inđônêxia

Vụ nhà đầu tư Hoa Kỳ là Amco Asia Corporation (Amco) kiện Chính phủ Inđônêxia là một tranh chấp đầu tư quốc tế được phát sinh từ khuôn khổ của một hợp đồng, không phải là từ một hiệp định. Tranh chấp bắt nguồn từ một hợp đồng xây dựng và quản lý Khu liên hợp khách sạn ở Giacácta với thời hạn 30 năm tính từ năm 1968. Tuy nhiên, đến năm 1980, Chính phủ Inđônêxia đã hủy bỏ việc đầu tư và giành quyền quản lý khu liên hợp khách sạn này. Nhà đầu tư Amco (nguyên đơn) khởi kiện Nhà nưốc Inđônêxia vào năm 1981 tại trọng tài ICSID. Nám 1984, Hội đồng trọng tài đưa ra phán quyết có lợi cho nguyên đơn. Theo đó, Hội đồng trọng tài cho rằng, các hành động của Inđônêxia đã vi phạm pháp luật quốc tế và gây ra thiệt hại 3.200.000 USD cho nguyên đơn.

Năm 1985, Inđônêxia đề nghị hủy bỏ phán quyết với lý do Hội đồng trọng tài mắc một số lỗi nội dung khi đưa ra phán quyết và sau đó, phán quyết đã được hủy bỏ một phần vào năm 1986. Năm 1987, nguyên đơn tái khởi kiện vụ tranh chấp lên Hội đồng trọng tài mới. Phán quyết lần hai vào năm 1990, một lần nữa có lợi cho nguyên đơn. ở lần này, Hội đồng trọng tài phán quyết là việc tiếp quản Khu liên hợp khách sạn và thu hồi giấy phép đầu tư của Amco là vi phạm pháp luật quốc tế, nên Inđônêxia phải bồi thường cho Amco là 2.696.330 USD. Sau đó, nguyên đơn yêu cầu có phán quyết bổ sung và sửa chữa đôì với phán quyết lần hai. Sau phán quyết này, tháng 10/1990, hai bên đã yêu cầu hủy bỏ phán quyết lần hai. Yêu cầu này sau đó đều bị bác bỏ vào tháng 12/1992.

b. Bình luận vụ việc Amco kiện Inđônêxia

Vụ Amco và Inđônêxia cũng đã làm dấy lên quan ngại về cơ chế hủy bỏ phán quyết của ICSID. Đây là một trong số ít vụ tranh chấp giải quyết theo Quy tắc ICSID vừa có hai phán quyết, vừa có hai quy trình hủy bỏ phán quyết, ủy ban hủy bỏ phán quyết thứ nhất nhận thấy, Hội đồng trọng tài thứ nhất đã vượt quá thẩm quyển và không áp dụng các quy định có liên quan của pháp luật Inđônêxia.

Bên cạnh đó, do những tính toán không chính xác về cổ phiếu của nhà đầu tư (liên quan đến sự tuân thủ của nhà đầu tư đối với các ràng buộc), Hội đồng trọng tài đã không nêu ra được những căn cứ rõ ràng cho phán quyết. Những phát hiện này gây lo ngại là ủy ban hủy bỏ phán quyết trọng tài theo vụ việc đã có cách tiếp cận quá rộng trong quy trình hủy bỏ phán quyết và đã xem xét lại nội dung vụ kiện. Cách tiếp cận của ủy ban hủy bỏ phán quyết trọng tài thứ nhất trong vụ Amco và Inđônêxia có tính chất gần với xét xử phúc thẩm của tòa án hơn là xem xét lại vụ việc của trọng tài quốc tế.

Inđônêxia là bên thua kiện trong vụ tranh chấp với Amco. Việc Inđônêxia nộp đơn đề nghị hủy bỏ phán quyết và được chấp thuận một phần đã kéo dài và tăng thêm chi phí cho vụ tranh chấp này. Mặc dù thua kiện, có lẽ Inđônêxia vẫn coi việc đề nghị hủy bỏ phán quyết trọng tài được chấp thuận là một diễn biến tích cực. Quy trình hủy bỏ phán quyết trọng tài được thực hiện đồng nghĩa với việc Inđônêxia được trì hoãn thực thi phán quyết ràng buộc chốhg lại mình (kéo theo đó nghĩa vụ bồi thường thiệt hại) thêm 8 năm. Một nhà nước là bị đơn trong vụ tranh chấp và đang đề nghị hủy bỏ phán quyết trọng tài sẽ quan tâm đến việc đê' nghị được chấp thuận hơn là những lập luận cụ thể của ủy ban hủy bỏ phán quyết trọng tài. Vì vậy, có lẽ Inđônêxia không quan ngại về quyết định của ủy ban hủy bỏ phán quyết trọng tài thứ nhất như một số nhà bình luận.

Vụ tranh chấp giữa Amco và Inđônêxia đã cho thấy cơ hội của các bên tranh chấp liên quan đến sử dụng cơ chế hủy bỏ phán quyết trọng tài ICSID. Có nhiều ý kiến cho rằng, trong một vài trường hợp, nếu tranh chấp được giải quyết theo cơ chế của ICSID, quốc gia là bị đơn sẽ có cơ hội được chấp thuận yêu cầu hủy bỏ phán quyết cao hơn so với giải quyết tại thiết chế giải quyết tranh chấp khác (Theo Markus Burgstaller and Charles B. Rosenberg: Challenging International Arbitral Awards: To ICSID or not to ICSID?, Arbitration International, 2011, Vol. 27).

2. Vụ RafatAli Rizvi kiện Inđônêxia

a. Khái quát Vụ RafatAli Rizvi kiện Inđônêxia

Vụ việc được khởi kiện dựa trên BIT giữa Inđônêxia và Vương quốc Anh năm 1976.

- Nguyên đơn là ông Rafat All Rizvi, công dân của Vương quốc Anh khởi kiện Nhà nước Inđônêxia tại Trung tâm ICSID theo Quy tắc tố tụng trọng tài ICSID (nộp đơn tại ICSDS vào ngày 05/4/2011).

Vụ việc phát sinh do nguyên đơn đã đầu tư vào Inđônêxia thông qua một công ty được thành lập tại Bahamát (Bahamas) là Chinkara Capital Limited (Chinkara), sau đó đổi tên thành First Gulf Asia Holdings Limited (“FGAH”). Cùng với ông Hesham al-Warraq, nguyên đơn là một đồng sở hữu của Chinkara.

Từ đầu những năm 2000, Chinkara bắt đầu mua cổ phần tại ba ngân hàng Inđônêxia là: PT Bank Pikko, Tbk (Pikko) (mua lại 65% cổ phần), PT Danpac, Tbk (Danpac) (mua lại 55% cổ phần) và PT Bank CIC, Tbk (CIC) (mua lại 19,8% cổ phần). Các ngân hàng này sáp nhập vào cuối năm 2004 để hình thành PT Bank Century, Tbk (Bank Century). Theo Luật về Ngân hàng của Inđônêxia (Luật số 14 năm 1967, được thay thế bởi Luật số 7 năm 1992, sau đó được sửa đổi, bổ sung tại Luật số 10 năm 1998). Theo Luật số 14, nước này cho phép đầu tư vào lĩnh vực ngân hàng nhưng giới hạn bởi hình thức mua thành lập chi nhánh và liên doanh, nhưng sau khi có Luật số 7 thì cá nhân, tổ chức nước ngoài được mua cổ phiếu của ngân hàng Inđônêxia.

Vụ việc bắt đầu khi Rizvi bị kết án bởi tòa án hình sự Inđônêxia với cáo buộc lừa đảo và rửa tiền cũng như vai trò của ông này trong việc ngân hàng bị phá sản dẫn đến yêu cầu trả khoảng 700 triệu USD tiền bồi thường từ phía Nhà nước Inđônêxia.

Ngày 07/6/2011, nguyên đơn đề nghị thành lập Hội đồng trọng tài gồm ba trọng tài viên theo Điều 37 của Công ước ICSID và đến ngày 24/6/2011 bị đơn đồng ý về việc này. Do đó, đến tháng 9/2011 thì Hội đồng trọng tài giải quyết vụ việc được thành lập. Tháng 02/2012, nguyên đơn đưa ra phản đối thẩm quyền của trọng tài.

Trong quá trình tố tụng, căn cứ theo Luật Đầu tư của Inđônêxia năm 1967 (Luật số 1) và BIT giữa Inđônêxia và Vương quốc Anh, Inđônêxia cho rằng chỉ bảo hộ theo BIT các khoản đầu tư trực tiếp được thực hiện theo quy trình, pháp luật của họ.

Ngược lại nguyên đơn cũng lập luận theo Luật Đầu tư của Inđônêxia năm 1967 và BIT giữa Inđônêxia và Vương quốc Anh với luận điểm rằng hai văn bản này đều thừa nhận khoản đầu tư không giới hạn ở đầu tư trực tiếp mà bao gồm bảo hộ cả khoản đầu tư trực tiếp.

b. Phán quyết của trọng tài trong vụ RafatAli Rizvi kiện Inđônêxia

Trên cơ sở phân tích tình tiết vụ việc, pháp luật liên quan của Inđônêxia cũng như BIT giữa Inđônêxia và Vương quốc Anh, tháng 6/2013, Hội đồng trọng tài đã ra phán quyết bác bỏ yêu cầu bồi thường do đây không thuộc thẩm quyền giải quyết của Trọng tài ICSID khi phát hiện rằng đầu tư của Rizvi đã không đúng với quy định về định nghĩa đầu tư được ghi nhận trong Hiệp định giữa Inđônêxia và Vương quốc Anh. Đây là phán quyết đầu tiên liên quan đến hiệp định đầu tư song phương của Inđônêxia tại ICSID.

3. Vụ Churchill Mining & Planet Mining Pty Ltd kiện Inđônêxia

Tranh chấp này liên quan đến việc thu hồi giấy phép kinh doanh khai thác khoáng sản của PT Ridlatama Tambang Mineral, PT Ridlatama Trade Power, PT Investama Resource và PT Investama Nusa Persada của tập đoàn Kutai Timur Regent.

Ban đầu vụ việc được nguyên đơn khởi kiện tại ICSID trên cơ sỏ cáo buộc Inđônêxia vi phạm BIT giữa Vương quốc Anh và Inđônêxia nám 1976. Tuy nhiên, một số thủ tục trong quá trình tố tụng lại được dựa vào BIT giữa Inđônêxia và Ôxtrâylia năm 1992.

a. Tình tiết của vụ việc

Ngày 22/5/2012, Churchill Mining PLC đệ đơn khởi kiện Nhà nước Inđônêxia đến ICSID với cáo buộc quốc gia này vi phạm các quy định về bảo hộ đầu tư tại BIT giữa Vương quốc Anh và Inđônêxia. Đối với vụ việc này, một Hội đồng trọng tài gồm 03 trọng tài viên được thành lập theo Quy tắc trọng tài ICSID (Vụ việc SỐ ARB/12/14).

Tiếp đó ngày 26/11/2012, Planet Mining Pty tiếp tục đệ trình khiếu kiện đến ICSID liên quan đến việc vi phạm của Nhà nước Inđônêxia đốì với các khoản đầu tư của nguyên đơn có trong các công ty của Inđônêxia theo BIT giữa Ôxtrâylia và Inđônêxia trong ngành khai thác than. Liên quan đến vụ việc, một Hội đồng trọng tài khác cũng được thành lập theo Quy tắc trọng tài ICSID (Vụ việc số’ ARB/12/40).

Trên cơ sở hai vụ việc, vào tháng 3/2013, các bên tranh chấp thông nhất hợp nhất thành vụ việc tranh chấp duy nhất được giải quyết tại ICSID vì tranh chấp về nội dung tương tự nhau vói cùng một bị đơn. Trọng tài đã ghi nhận việc này tại Lệnh về thủ tục số 4.

Liên quan đến vụ việc, nguyên đơn cũng đã có phản đối về thẩm quyền vào tháng 5/2013 và sau đó, Hội đồng trọng tài đã ra hai quyết định kết luận họ có thẩm quyền đối với cả hai vụ việc nêu trên.

Một trong những lý do Inđônêxia bác bỏ thẩm quyền của trọng tài là điều khoản giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài và nước nhận đầu tư trong BIT giữa Inđônêxia và Ôxtrâylia năm 1992 chưa có hiệu lực. Nhà nước Inđônêxia cho rằng trọng tài ICSID không có thẩm quyền xét xử vì trước tiên phải có sự chấp thuận thẩm quyền của trọng tài ICSID từ phía Inđônêxia.

Bên cạnh đó, Nhà nước Inđônêxia cũng nêu lý do bác bỏ thẩm quyền của trọng tài ICSID trong trường hợp này do tranh chấp đã được giải quyết theo Luật số 25 năm 2007 của Inđônêxia về đầu tư (còn gọi là Luật Đầu tư của Inđônêxia), theo đó mọi tranh chấp phát sinh giữa các nhà đầu tư nước ngoài và Nhà nước có thể được giải quyết thông qua trọng tài quốc tế hoặc trọng tài vụ việc được thành lập theo Luật số 30 năm 1999 của Inđônêxia liên quan đến trọng tài và các biện pháp giải quyết tranh chấp thay thế (còn gọi là Luật Trọng tài Inđônêxia). Luật Đầu tư không có quy định đề cập trọng tài ICSID hay bất kỳ cơ chế trọng tài nào khác hoặc hệ thống cơ quan trọng tài trong nước của Inđônêxia.

b. Xem xét vụ việc

Vụ việc trải qua phiên trước xét xử (tháng 8/2014) và phiên xét xử (tháng 8/2015) tại Xingapo. Sau phiên xét xử, Hội đồng trọng tài tiếp tục có Lệnh thủ tục số 20 yêu cầu các bên cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ.

Hội đồng trọng tài thành lập theo Quy tắc phụ trợ của ICSID đã bác bỏ tuyên bố của Churchill Mining & Planet Mining chống lại Nhà nước Inđônêxia, trên cơ sở pháp luật quốc tế cũng như các bằng chứng và ý kiến tư vấn chuyên gia, kết luận rằng giấy phép khai thác than được đưa ra trong vụ tranh chấp đã bị giả mạo. Mặt khác, cũng đã chứng minh được rằng các nguyên đơn đã không tiến hành điều tra thích hợp trước khi thực hiện đầu tư nước ngoài tại Inđônêxia.

Đối với chi phí tố tụng trọng tài, chi phí hành chính liên quan đến trọng tài do bên nguyên đơn phải chịu; còn chỉ phí tô' tụng khác bên nguyên đơn phải chịu 75% và có trách nhiệm hoàn lại cho bị đơn.

4. Vụ Nusa Tenggara Partnership B.v. và PTNewmont Nusa Tenggara kiện Inđônêxia

Trường hợp này là ví dụ về cách thức nhà đầu tư sử dụng các điều ước quốc tế về đầu tư, đặc biệt là các hiệp định đầu tư song phương để miễn trừ các quy định của nội luật. Vào tháng 7/2014, Công ty khai thác mỏ Newmont của Hà Lan đưa vụ kiện chống lại Nhà nước Inđônêxia giải quyết tại cơ chế trọng tài ICSID trên cơ sở các điều khoản trong BIT giữa Inđônêxia và Hà Lan năm 1997. Nhà đầu tư Hà Lan nêu trên lập luận rằng Nhà nước Inđônêxia thực hiện lệnh cấm xuất khẩu khoáng sản chưa qua chế biến sẽ vi phạm thỏa thuận đầu tư giữa hai nước.

Vụ việc được đưa ra Hội đồng trọng tài thành lập theo ICSID khoảng 04 tháng sau khi Inđônêxia thông báo sẽ không gia hạn BIT với Hà Lan khi hết hạn vào tháng 7/2015. Sau một tháng, công ty Newmont đã rút vụ kiện với Nhà nước Inđônêxia chỉ sau khi đã đạt được thỏa thuận với Chính phủ nước này cho phép công ty khai thác đặc biệt miễn trừ từ luật khai thác mới của Inđônêxia. Đây là vụ việc đầu tiên được Inđônêxia giải quyết thông qua cơ chế đàm phán thỏa thuận với nhà đầu tư nước ngoài, do các bên đã đạt được thỏa thuận giải quyết tranh chấp.

5. Vụ Indian Metals & Ferro Alloys Ltd kiện Inđônêxia

Vụ việc trên được kiện theo BIT giữa Inđônêxia và Ân Độ năm 1999 về tranh chấp do sự chồng chéo trong các quy định của pháp luật Inđônêxia về cấp phép khai thác than đối với nhà đầu tư nước ngoài, dẫn đến xung đột quyền khai thác than giữa công ty nước ngoài và trong nước trong lãnh thổ Inđônêxia và vụ Oleovest Pte. Ltd. kiện Inđônêxia liên quan đến BIT giữa Inđônêxia và Xingapo năm 2005 về tranh chấp đối với nội dung của dự án sản xuất dầu thực vật chiết xuất từ cây cọ tại đảo Sumantra của Nhà nước Inđônêxia đôì với nhà đầu tư nước ngoài là hai vụ việc đang trong quá trình tố tụng trọng tài, do đó chưa thể đưa ra kết luận gì nhiều đối vói cách thức giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài và nưóc nhận đầu tư đối với các vụ việc này.

Từ những thực tiễn trên, có thể thấy Nhà nước Inđônêxia đã và đang rất tích cực trong việc xây dựng pháp luật quốc gia về đầu tư và giải quyết tranh chấp theo cơ quan tài phán trong nước cũng như xem xét, rà soát lại các BIT của mình vói nước ngoài để giảm thiểu các tranh chấp đầu tư quốc tế có liên quan, đặc biệt là tranh chấp vối nhà đầu tư nưốc ngoài, tạo cơ hội và môi trường đầu tư hấp dẫn đốĩ với nước ngoài cũng như xây dựng pháp luật quốc tế về giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài vối nước nhận đầu tư trong lĩnh vực pháp luật đầu tư quốc tế chặt chẽ hơn.

Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê sưu tầm và biên soạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê (Sưu tầm và Biên soạn).