1. Cách phân chia tài sản thế chấp trong ngân hàng khi ly hôn ?

Thưa luật sư, Tôi và chồng tôi vay ngân hàng thế chấp ngôi nhà đang ở. Hiện tại nhiều năm không đóng lãi, mất khả năng chi trả. Chúng tôi đang làm thủ tục ly hôn, tòa án nói ngôi nhà không nằm trong diện tài sản chung.
Tôi muốn bán 1 nửa căn nhà để chuộc sổ đỏ ngôi nhà ra (vì số tiền vay chưa tới 1 nửa giá trị căn nhà) nhưng chồng tôi không đồng ý kí tên vì anh ấy đã có nhà khác. Anh ấy nói cứ để như vậy để ngân hàng phát mãi lấy luôn cái nhà. Tôi phải làm gì để có thể lấy lại nửa căn nhà của mình ?
Xin giúp tôi!
Người hỏi: P.T.T.Trúc

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến chuyên mục tư vấn pháp luật của chúng tôi. Câu hỏi của bạn, Luật Minh Khuê xin trả lời như sau:

Theo như thông tin bạn cung cấp thì Tòa án không công nhận ngôi nhà mà bạn đang thế chấp ngân hàng là tài sản chung của 2 vợ chồng nhưng bạn lại không nói rõ là nó thuộc quyền sở hữu riêng của bạn hay chồng bạn. Hơn nữa, bạn và chồng bạn vẫn đang làm thủ tục ly hôn và chưa có quyết định ly hôn chính thức từ phía Tòa án cũng như sự công nhận về việc phân chia tài sản sau khi ly hôn sẽ thuộc về bên nào nên việc bạn muốn bán căn nhà đi để chuộc sổ đỏ là hoàn toàn không thể thực hiện được. Bạn chỉ có thể thực hiện việc bán nhà sau khi có quyết định công nhận ly hôn và phân chia tài sản của Tòa án, khi đó Tòa án sẽ phân định rõ bên nào có quyền sở hữu đối với phần tài sản là căn nhà đó và chỉ có người đó mới có quyền thực hiện các giao dịch bán đất, định đoạt quyền sử dụng đất

Trường hợp sau khi có quyết định công nhận ly hôn và chia tài sản mà căn nhà đó thuộc sở hữu riêng của bạn thì bạn sẽ hoàn toàn có quyền định đoạt (bán nhà) mà không cần sự đồng ý hay ký tên của chồng bạn nữa. Còn nếu như Tòa án công nhận căn nhà đó là tài sản riêng của chồng bạn thì bạn sẽ không thể bán căn nhà đó được mà người duy nhất có quyền là chồng bạn. Cụ thể, Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định về việc định đoạt tài sản riêng như sau:

"Điều 44. Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng

1. Vợ, chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của mình; nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào tài sản chung.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng không thể tự mình quản lý tài sản riêng và cũng không ủy quyền cho người khác quản lý thì bên kia có quyền quản lý tài sản đó. Việc quản lý tài sản phải bảo đảm lợi ích của người có tài sản.

3. Nghĩa vụ riêng về tài sản của mỗi người được thanh toán từ tài sản riêng của người đó.

4. Trong trường hợp vợ, chồng có tài sản riêng mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng đó là nguồn sống duy nhất của gia đình thì việc định đoạt tài sản này phải có sự đồng ý của chồng, vợ."

Như vậy, để xác định xem bạn có được bán căn nhà đó hay không thì bạn cần phải đợi đến khi có phán quyết của Tòa án xem đó là tài sản của ai và căn cứ vào phán quyết đó để xác định người có quyền bán nhà.

Rất cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi.

>> Xem thêm:  Thủ tục xin ly hôn khi đang mang thai ? Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết ly hôn ?

2. Những vấn đề cần biết khi tiến hành thủ tục ly hôn ?

Luật Minh Khuê giải đáp một số vướng mắc thường gặp của Quý khách hàng trong quá trình tiến hành thủ tục ly hôn theo quy định của pháp luật:

Luật sư tư vấn:

1. Quyền yêu cầu tòa án giải quyết ly hôn:

- Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn.

- Trong trường hợp vợ có thai hoặc đang nuôi con dưới mười hai tháng tuổi thì chồng không có quyền yêu cầu xin ly hôn

2. Thủ tục ly hôn:

a, Thủ tục đơn phương ly hôn:

- Hồ sơ bao gồm:

+ Đơn xin ly hôn theo mẫu.

+ Bản sao sổ hộ khẩu.

+ Bản sao chứng minh nhân dân.

+ Những chứng từ chứng minh tài sản chung của vợ chồng (nếu có tài sản chung cần chia).

+ Bản sao giấy khai sinh của con bạn.

+ Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn (bản chính).

Lưu ý: các bản sao giấy tờ trên cần công chứng, chứng thực theo quy định pháp luật.

- Nơi nộp hồ sơ: Toà án nhân dân quận/huyện nơi bị đơn có hộ khẩu thuờng trú, hoặc cư trú.

- Thời hạn giải quyết: thời hạn giải quyết đơn phương ly hôn có thể là 2 tháng đến 6 tháng. Và thời hạn mở phiên tòa là từ 1 đến 2 tháng kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử.

b, Thủ tục thuận tình ly hôn:

- Hồ sơ bao gồm:

+ Đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn;

+ Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn (bản chính);

+ Chứng minh nhân dân của vợ và chồng (bản sao có chứng thực);

+ Giấy khai sinh của các con (bản sao có chứng thực);

+ Sổ hộ khẩu gia đình (bản sao có chứng thực);

+ Những chứng từ chứng minh tài sản chung của vợ chồng (nếu có tài sản chung cần chia).

- Nơi nộp hồ sơ: Tòa án nhân dân quận, huyện nơi cư trú, làm việc của một trong hai bên.

- Thời gian giải quyết:

+ Trong thời hạn 5 ngày kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu, Tòa án phải thụ lý vụ án, thông báo để đương sự nộp tiền tạm ứng án phí. Sau khi nộp án phí, người khởi kiện nộp cho tòa biên lai nộp tiền tạm ứng án phí để Tòa thụ lý vụ án.

+ Trong thời hạn 15 ngày, nếu Tòa án hòa giải không thành, xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thoả thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con thì Toà án công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận về tài sản và con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con; nếu không thoả thuận được hoặc tuy có thoả thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Toà án quyết định.

Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày hòa giải không thành, nếu hai bên đương sự không thay đổi nội dung yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn thì Tòa án ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn.

3. Việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con sau khi ly hôn

- Sau khi ly hôn, vợ, chồng vẫn có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

- Vợ, chồng thoả thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; nếu không thoả thuận được thì Toà án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ bảy tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

- Con dưới ba tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, nếu các bên không có thoả thuận khác hoặc mẹ không đủ điều kiện trực tiếp nuôi ccon

4. Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong các căn cứ sau đây:

- Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con;

- Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

- Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên.

- Trong trường hợp cả cha và mẹ đều không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con thì Tòa án quyết định giao con cho người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự.

- Trong trường hợp có căn cứ khi người trực tiếp nuôi con không đủ điều kiện, thì trên cơ sở lợi ích của con, cá nhân, cơ quan, tổ chức sau có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con:

+ Người thân thích;

+ Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;

+ Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;

+ Hội liên hiệp phụ nữ.

5. Quyền thăm nom con sau khi ly hôn

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con; không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.
Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Quý khách có thể dựa vào nội dung tư vấn trên đây để trả lời câu hỏi của mình. Luật Minh Khuê xin trả lời một số câu hỏi có nội dung riêng biệt như sau:

Thưa luật sư, Cho tôi hoi vợ chồng tôi đã ly hôn được 5năm nhưng chỉ giải quyết thỏa thuận tai 2bên gia đình ,giờ tôi muốn ra tòa để hủy việc kết hôn với chồng tôi để tôi lập gia đình và đăng ký kết hôn với người khác thì cần những thủ tục gì?xin được giải đáp Cho tôi hỏi thêm chồng cũ tôi và tôi đã có gia đình khác trước khi ra tòa vậy sau khi ra tòa sự việc đó có đem ra để giải quyet và có trai phap luật không?

Khoản 2 Điều 5 Luật hôn nhân và gia đình 2014 có quy định:

2. Cấm các hành vi sau đây:

a) Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo;

b) Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn;

c) Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;

d) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;…”

Do đó, trong trường hợp bạn và chồng bạn chưa ly hôn nhưng cả hai đều kết hôn với người khác có gia đình riêng là vi phạm pháp luật về hôn nhân. Nếu tòa giải quyết, sẽ phạt hành chính với hai người như sau:

Khoản 1 Điều 48 Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã quy định:

"1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;

c) Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

d) Kết hôn giữa những người có họ trong phạm vi ba đời;

đ) Kết hôn giữa cha mẹ nuôi với con nuôi;

e) Kết hôn giữa người đã từng là cha mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng."

Xin luật sư tư vấn cho tôi về luật hôn nhân: Tôi đã kết hôn được 4 năm và đã có 1 đứa con gai 4 tuổi, cưới xong tôi sống chung với bố mẹ tôi, sau 2 năm bố mẹ tôi có mua cho tôi 1 căn nhà để vợ chồng tôi ra ở riêng, căn nhà đứng tên tôi, đên bây giờ vợ chồng tôi có ý định ly hôn. Vậy luật sư tư vấn cho tôi biết nếu ly hôn thì tài sản và căn nhà sẽ được giải quyết như thế nào. Xin cảm ơn.

Điều 33, khoản 1, luật hôn nhân gia đình 2014 có quy định về tài sản chung:

"1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.
2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.
3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung."

Bạn chỉ cần chứng minh, căn nhà là do bố mẹ bạn tặng cho riêng bạn thì căn nhà là tài sản riêng của bạn. Các tài sản khác nếu hình thành trong thời kỳ hôn nhân và không có căn cứ chứng minh là tài sản riêng thì sẽ được coi là tài sản chung của vợ chồng.

Trân trọng!

>> Xem thêm:  Tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến qua tổng đài điện thoại

3. Làm thế nào để ly hôn khi đã sống ly thân ?

Xin chào công ty Luật Minh Khuê, tôi có vướng mắc mong quý công ty tư vấn giúp tôi như sau: Tôi lập gia đình đến nay được 05 năm, vợ chồng tôi có hai con sinh đôi. Cách đây 04 năm vì có mâu thuẫn giữa hai vợ chồng nên vợ tôi đã viết đơn ly hôn nhưng tôi không ký. Kể từ đó đến giờ chúng tôi ly thân mà không liên quan gì đến nhau.
Vì sống không có vợ con nên tôi đã lỡ có tình cảm với người khác và có con ngoài luồng. Bây giờ tôi muốn ly hôn để tiếp tục cuộc sống mới nhưng do vợ tôi biết việc tôi có con ngoài luồng nên đang làm khó tôi. Giờ tôi không biết phải làm như thế nào để ly hôn cho thuận ?
Mong quý công ty có thể tư vấn giúp tôi. Xin chân thành cảm ơn!

Trả lời:

Căn cứ quy định tại Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về quyền yêu cầu giải quyết ly hôn như sau:

"Điều 51. Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn

1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi."

Theo đó, bạn hoặc vợ bạn hoặc cả hai vợ chồng bạn đều có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề ly hôn cho hai vợ chồng bạn. Thậm chí, bố mẹ bạn hoặc bố mẹ vợ bạn hoặc người thân thích khác cũng có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người còn lại. Như thông tin bạn cung cấp, bạn lập gia đình đến nay được 05 năm, vợ chồng bạn có hai con sinh đôi. Cách đây 04 năm vì có mâu thuẫn giữa hai vợ chồng nên vợ bạn đã viết đơn ly hôn nhưng bạn không ký. Kể từ đó đến giờ hai vợ chồng bạn sống ly thân mà không liên quan gì đến nhau. Vì sống không có vợ con nên bạn đã lỡ có tình cảm với người khác và có con ngoài luồng. Bây giờ bạn muốn ly hôn để tiếp tục cuộc sống mới nhưng do vợ bạn biết việc bạn có con ngoài luồng nên đang làm khó cho bạn.

Do đó, trong trường hợp này, nếu bạn cố gắng thỏa thuận được với vợ bạn về việc đồng ý ly hôn và đã thỏa thuận được với nhau về vấn đề con chung và tài sản chung thì hai vợ chồng bạn có thể làm đơn yêu cầu thuận tình ly hôn theo Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014:

"Điều 55. Thuận tình ly hôn

Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn."

Ngược lại, nếu vợ bạn cố tình gây khó khăn cho bạn, mặc dù bạn đã thiện chí mong muốn ly hôn nhưng vợ bạn cũng không đồng ý ly hôn thì bạn có quyền làm đơn yêu cầu ly hôn đơn phương căn cứ theo quy định tai Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 như sau:

"Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia."

Như vậy, trong trường hợp bạn muốn ly hôn đơn phương với vợ bạn mà vợ bạn không muốn ly hôn thì bạn phải đưa ra được căn cứ chứng minh về việc vợ chồng bạn đã ly thân được 04 năm nay, có xác nhận của chính quyền địa phương hoặc lời làm chứng của anh em, họ hàng, hàng xóm, bạn bè, người thân thích khác hoặc bạn buộc phải đưa ra được bằng chứng về việc bạn ngoại tình và có con riêng với người phụ nữ khác khi đang trong thời kỳ hôn nhân của vợ chồng. Vợ bạn cũng mong muốn được ly hôn với bạn nhưng chỉ là muốn gây khó dễ cho bạn vì cô ấy biết bạn có con riêng với người khác. Lúc này, tùy thuộc vào những bằng chứng bạn đưa ra thì Tòa án có thể sẽ chấp nhận giải quyết vấn đề ly hôn của bạn kể cả khi vợ bạn không đồng ý ly hôn.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi về yêu cầu của bạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi số: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Tư vấn giải quyết cưỡng chế thi hành án khi chồng không thực hiện nghĩa vụ tài sản sau ly hôn ?

4. Cách xác định tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân ?

Em chào luật sư, Hiện tại em và vợ em đã quyết định ly hôn thuận tình. Em có hộ khẩu thường trú tại Nam Định, vợ em có hộ khẩu thường trú tại Quảng Trị. Nhưng hiện tại em và vợ em đang sống và làm việc ở Tp.Hồ Chí Minh. Chúng em không có tài sản chung gì cả, có 1 con nhỏ 15 tháng tuổi, thỏa thuận cô ấy sẽ nuôi. Bọn em ly hôn thuận tình có nhất thiết cả 2 phải có mặt ở tòa án huyện nơi 1 trong 2 người đăng ký hộ khẩu thường trú hay không?
Mong luật sư tư vấn giúp em thủ tục ly hôn để thuận tiện nhất cho em. Em cám ơn luật sư!

Trả lời:

Theo quy định tại điểm a, b khoản 1 điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 :

1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:

a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;

b) Các đương sự có quyền tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;

Nơi cư trú của 1 người có thể được xác định là nơi có hộ khẩu thường trú hoặc nơi người đó có đăng ký tạm trú , vậy hai bạn đã thỏa thuận được về việc nuôi con và các nghĩa vụ cấp dưỡng cho con sau khi ly hôn thì bạn có thể gửi đơn thuận tình ly hôn lên tòa án nhân dân cấp huyện nơi bạn và vợ mình có đăng ký tạm trú để yêu cầu tòa án giải quyết ly hôn .

Kính chào luật sư! Tôi muốn hỏi luật sư về tài sản và khoản nợ ngân hàng sau ly hôn. Năm 2013 vợ chồng tôi có mua một căn chung cư và bìa đỏ có tên tôi và chồng.thang 2 năm 2016 vợ chồng tôi có đứng lên thế chấp ngân hàng vay 450 triệu cho em trai của chồng tôi mua nhà. Người đứng lên vay là chồng tôi và tôi đã kí xác nhận giấy tờ. Do mâu thuẫn vợ chồng tôi quyết định ly hôn .Hôm nay tôi có tới ngân hàng xin xác nhận khoản nợ nhưng ngân hàng từ chối xác nhận cho tôi vì người đứng tên vay là chồng tôi. Vậy luật sư cho tôi hỏi? khi ly hôn khoản nợ này tôi có phải chịu không? Tôi xin chân thành cảm ơn !

Luật hôn nhân gia đình hiện hành có quy định :

"Điều 60. Giải quyết quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba khi ly hôn

1. Quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba vẫn có hiệu lực sau khi ly hôn, trừ trường hợp vợ chồng và người thứ ba có thỏa thuận khác.

2. Trong trường hợp có tranh chấp về quyền, nghĩa vụ tài sản thì áp dụng quy định tại các điều 27, 37 và 45 của Luật này và quy định của Bộ luật dân sự để giải quyết."

Vậy trong trường hợp này vợ chồng bạn có tài sản chung là số nợ đã cho người em chồng vay và có nghĩa vụ trả nợ chung với khoản tiền vợ chồng bạn đã vay ngân hàng . Mặt khác căn chung cư được tạo lập trong thời kỳ hôn nhân và đứng tên cả hai người thì đây được coi là taì sản chung của vợ chồng . Như vậy , bạn vùa có nghĩa vụ trả nợ với khỏan nợ của ngân hàng và vừa có quyền được hưởng 1 nửa tài sản đối với căn nhà và khoản nợ đã cho người em chồng vay .

Xin chào công ty luật minh khuê, Tôi xin hỏi Năm tháng 9, 2015 vợ chồng tôi có đi vay ngân hàng và tôi có kí trước 1 tờ giấy trắng để khi vợ tôi làm hồ sơ vay ngân hàng có gì phát sinh thì có chữ ký ủa tôi luôn . Sau gần 1 năm tôi và vợ ly hôn, 5 tháng sau tôi có nhận được giấy báo nợ của bố vợ tôi là nói tôi nợ bố vợ tôi 560 triệu và giấy vay nợ viết và kí vào tháng 4 năm 2013 và bây giờ bố vợ tôi có gửi đơn kiện ra tòa đòi tôi trả nợ. Nay tôi hỏi tôi nên làm thế nào để chứng minh mình không có vay tiền . Tôi xin cảm ơn !

Theo bộ luật dân sự 2015, Hợp đồng chỉ có hiệu lực khi đáp ứng đủ 4 điều kiện:

Thứ nhất, các chủ thể ký kết hợp đồng phải hợp pháp. Thông thường các bên giao kết phải có đầy đủ năng lực hành vi dân sự.
Thứ hai, các chủ thể ký kết hợp đồng phải hoàn toàn tự nguyện tức là xuất phát từ ý chí thực, từ sự tự do ý chí của các bên trong các thỏa thuận hợp đồng đó.
Thứ ba, nội dung của hợp đồng không trái pháp luật và đạo đức xã hội. Đối tượng của hợp đồng không thuộc hàng hóa cấm giao dịch, công việc cấm thực hiện. Bên cạnh đó, nội dung của hợp đồng cần phải cụ thể, bởi vì việc xác lập nghĩa vụ trong hợp đồng phải cụ thể và có tính khả thi. Những nghĩa vụ trong hợp đồng mà không thể thực hiện được thì hợp đồng cũng không được coi là có hiệu lực pháp lý làm phát sinh quyền và nghĩa vụ.
Thứ tư, thủ tục và hình thức của hợp đồng phải tuân theo những thể thức nhất định phù hợp với những quy định của pháp luật đối với từng loại hợp đồng.

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Việc chia tài sản trước khi ra tòa ly hôn có vi phạm pháp luật không ?

5. Khi ly hôn thì khoản nợ chung được giải quyết như thế nào ?

Thưa Luật sư, tôi có vấn đề thắc mắc rất mong nhận được sự giải đáp như sau: Tôi năm nay 31 tuổi, chồng tôi năm nay 41 tuổi, chúng tôi kết hôn được gần 7 năm và có 2 con chung là 1 bé trai 7 tuổi và 1 bé gái 5 tuổi. Hiện tại 2 vợ chồng tôi đều làm nghề tự do, anh ấy kinh doanh mặt hàng nhựa tái chế, còn tôi kinh doanh quán ốc.
Thời gian đầu chúng tôi rất hạnh phúc,tôi học xog lớp CĐ Kế toán là lấy anh, rồi sanh liền 2 con, kinh tế gia đình anh lo. Từ hồi lấy nhau chúng tôi có chung tài sản là 1 căn nhà kèm mảnh đất ở khu vực ngoại thành,đó là tài sản do anh bán phân xưởng riêng của anh có được do tạo lập trước khi lấy vợ và chúng tôi cũng vay mượn thêm của cô ruột tôi 1 nửa số tiền bằng tài sản mua nhưng không có giấy ghi nợ mà chỉ nói qua sự quen biết trong gia đình. Căn nhà đó hiện tại do tôi đứng tên nhưng anh đã lấy đi thế chấp ngân hàng vay vốn làm ăn. Chúng tôi có mở quán nhậu do tôi đứng tên, ban đầu kinh doanh có lãi, anh cho tôi toàn quyền quyết định và tôi cũng không lấy tiền cấp dưỡng hằng thág anh lo cho mẹ con tôi như trước kia nữa. Tôi lo buôn bán đến 1 giờ khuya mới về, anh thì đi làm chạy tới chạy lui,chiều tối ra quán phụ tôi, chủ yếu là nhậu xã giao tiếp khách tiếp bạn. Sau đó tôi phát hiện anh đi matxa và có qua lại với cô gái hành nghề matxa. Tôi thật sự suy sụp và muốn ly hôn. Công việc làm ăn của tôi hiện tại không được ổn định cho lắm, có thể nói là kiếm ít tiền hơn anh nhưng tôi vẫn có khả năng lo cho con tôi chu đáo. Giờ tôi muốn làm đơn ly hôn nhưng không rành luật và muốn hỏi luật sư tôi có dành được quyền nuôi con không? Tôi không muốn chia con vì vài lần cãi nhau, anh cũng hay đùa là con trai ở với mẹ, con gái ở với ba, con gái tôi cũng rất quấn quít ba nó, tôi không muốn nó ở với ba nó vì nhiều trường hợp trên báo đăng ba bắt con làm nô lệ tình dục.
Xin luật sư tư vấn cho trường hợp của tôi,sự nghi ngờ và những chứng cứ ít ỏi như vậy có thể ly hôn được không? Khoản nợ chung của vợ chồng tôi mượn cô ruột tôi sẽ được trả rõ ràng không?
Chân thành cám ơn luật sư!

>> Luật sư tư vấn Luật hôn nhân gọi: 1900.6162

Trả lời:

Thứ nhất về quyền ly hôn theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về việc ly hôn theo yêu cầu của một bên như sau:

"Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ củavợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia"

Như vậy, chị có quyền gửi đơn yêu cầu ly hôn tời Tòa án nhân dân cấp huyện nơi hai bạn cư trú để yêu cầu giải quyết việc đơn phương ly hôn. Như thông tin chị cung cấp thì chồng chị có hành vi ngoại tình với một nhân viên matxa. Vì vậy, chị cần phải có những bằng chứng để chứng minh chồng bạn có hành vi ngoại tình để làm căn cứ thuyết phục trước Tòa án và cũng có thể xem là một lợi thế để chị giành quyền nuôi con.

*) Thủ tục ly hôn bao gồm

1. Đơn xin ly hôn, có xác nhận của UBND cấp xã, phường, thị trấn về hộ khẩu và chữ ký của chị. Trong đơn chị cần trình bày các vấn đề sau:

- Về kết hôn: Ở đâu? Thời gian? Kết hôn có hợp pháp không? Mâu thuẫn xảy ra khi nào? Mâu thuẫn chính là gì? Vợ chồng có sống ly thân không? Nếu có thì sống ly thân từ thời gian nào tới thời gian nào?

- Về con chung: Cháu tên gì? Sinh ngày tháng năm nào? Nay xin ly hôn chị có yêu cầu gì về giải quyết con chung (có xin được nuôi cháu không, Nghĩa vụ cấp dưỡng của cha cháu như thế nào)?

- Về tài sản chung: Có những tài sản gì chung? có giấy tờ kèm theo (nếu có). Nếu ly hôn chị muốn giải quyết tài sản chung như thế nào?

- Về nợ chung: Có nợ ai không? có ai nợ vợ chồng không? Tên, địa chỉ và số nợ của từng người? Chị muốn giải quyết như thế nào?

2. Bản sao Giấy khai sinh của cháu bé;

3. Bản sao Giấy CMND, sổ hộ khẩu của chị và của chồng chị (nếu có);

4. Bản chính Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn. Trường hợp không có bản chính Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn, thì chị phải xin xác nhận của UBND cấp xã, phường, thị trấn nơi đã đăng ký kết hôn.

*) Về khoản nợ chung trong thời kỳ hôn nhân

"Điều 60. Giải quyết quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba khi ly hôn

1. Quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba vẫn có hiệu lực sau khi ly hôn, trừ trường hợp vợ chồng và người thứ ba có thỏa thuận khác.

2. Trong trường hợp có tranh chấp về quyền, nghĩa vụ tài sản thì áp dụng quy định tại các điều 27, 37 và 45 của Luật này và quy định của Bộ luật dân sự để giải quyết"

Như vậy, khoản nợ mà hai vợ chồng chị nợ người khác thì nghĩa vụ trả nợ thuộc về cả hai vợ chồng chị trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

*) Về quyền nuôi con sau khi ly hôn

Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Điều 82. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Điều 83. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật này; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.

2. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Hiện nay thì vấn đề quyết định ai có quyền nuôi con sau khi ly hôn phụ thuộc khá nhiều vào quyết định của thẩm phán. Quyết định này sẽ dựa trên những điều kiện thực tế của vợ chồng. Ai là người có điều kiện tốt hơn nhằm đảm bảo nhu cầu thiết yếu về vật chất và tinh thần thì người đó sẽ được trao quyền nuôi con. Điểm đáng chú ý là với đứa trẻ mà được 7 tuổi thì chị sẽ phải hỏi ý kiến của con. Nếu muốn nuôi cả hai con chị cần chứng minh đựơc mình có khả năng trực tiếp đáp ứng được nhu cầu sinh hoạt và học tập của hai con và có những căn cứ để chứng minh được nếu ở với bố thì con gái bạn sẽ bị ảnh hưởng đến quá trình phát triển.

Trên đây là nội dung tư vấn của chúng tôi dành cho quý khách hàng. Ý kiến tư vấn dựa trên những quy định của pháp luật và thông tin mà khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra sự tư vấn là để cá nhâ, tổ chức tham khảo. Nếu có vấn đề thắc mắc bạn có thể liên hệ với chúng tôi qua tổng đài 1900.6162 để được tư vấn pháp luật trực tiếp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật Hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Quyền lợi của vợ và con khi vợ chồng ly hôn ? Ly hôn khi mắc bệnh lây nhiễm từ chồng ?