- Phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành là trường hợp phạm tội chưa đạt, trong đó người phạm tội vĩ những nguyên nhân khách quan chưa thực hiện hết các hành vi cho là cần thiết đế gây ra hậu quả thiệt hại được mô tả trong cấu thành tội phạm.

Ví dụ: A định giết B và đã đâm B. Nhưng mới đâm được một nhát sượt qua bả vai thì bị bắt giữ nên không thể đâm tiếp được như ý muốn. Kết quả B chỉ bị thưong. Trong trường hợp này, người phạm tội biết hành vi của mình chưa thể gây ra hậu quả chết người mà mình mong muốn.

- Phạm tội chưa đạt đã hoàn thành là trường hợp phạm tội chưa đạt, trong đó người phạm tội đã thực hiện hết các hành vi cho là cần thiết để gây ra hậu quả thiệt hại được mô tả trong cấu thành tội phạm nhưng do nguyên nhân ngoài ý muốn, hậu quả đó vẫn không xảy ra.

Ví dụ: A định hủy hoại ô tô của B nên đã chuẩn bị mìn hẹn giờ và đã đặt mìn hẹn giờ đã được kích hoạt dưới gầm ô tô của B. Theo kế hoạch, sau 2 tiếng, mìn sẽ tự nổ. Nhưng mìn đã không nổ vì kíp mìn hỏng. Trong trường hợp này, A đã thực hiện hết hành vi cần thiết và chỉ cần đợi mìn nổ hủy hoại ô tô của B. Hậu quả này đã không xảy ra ngoài ý muốn của A.

Việc phân biệt hai loại phạm tội chưa đạt trên đây tuy không được thể hiện trong quy định của Điều 15 bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 nhưng việc phân biệt này vẫn có ý nghĩa đối với việc áp dụng luật hình sự. Trong bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 Việt Nam hiện nay, việc phân biệt này có ý nghĩa đối với việc áp dụng Điều 16 bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Căn cứ vào tính chất đặc biệt của nguyên nhân dẫn đến việc chưa đạt:

Theo căn cứ này, luật hình sự phân biệt trường hợp phạm tội chưa đạt vô hiệu với các trường hợp phạm tội chưa đạt khác.

Chưa đạt vô hiệu là trường hợp phạm tội chưa đạt mà nguyên nhân khách quan của việc chưa đạt gắn với đối tượng tác động của tội phạm, với công cụ, phương tiện phạm tội. Theo đó, phạm tội chưa đạt vô hiệu bao gồm hai trường hợp sau:

- Trường hợp thứ nhất là trường hợp chủ thể thực hiện hành vi nhằm gây thiệt hại cho khách thể bảo vệ của luật hình sự nhưng thực tế không gây thiệt hại được vì không có đối tượng tác động (mở két của cơ quan để lấy trộm tiền nhưng không lấy được vì trong két không còn tiền) hoặc vì đối tượng tác động không có tính chất mà người phạm tội tưởng là có (đưa hối lộ cho người tưởng là có chức vụ, quyền hạn nhưng thực tế người đó không có chức vụ, quyền hạn).

- Trường hợp thứ hai là trường hợp phạm tội chưa đạt do người phạm tội đã sử dụng nhầm công cụ, phương tiện phạm tội mà người đó muốn. Trong trường hợp phạm tội chưa đạt vô hiệu này, công cụ, phương tiện phạm tội mà người phạm tội muốn sử dụng có khả năng gây ra hậu quả thiệt hại của tội phạm nhưng công cụ, phương tiện cụ thể mà người đó sử dụng không có khả năng đó. Ví dự. Người phạm tội dùng thuốc ngủ liều cao để đầu độc người có tư thù với mình để họ chết, nhưng người bị đầu độc không chết vì người phạm tội đã dùng phải thuốc ngủ giả. Ở đây cần phân biệt trường hợp này với trường hợp trong đó chủ thể đã dùng những phương tiện rõ ràng là không thể gây thiệt hại được. Ví dự. Người vì lạc hậu, mê tín đã bỏ bùa để giết người khác. Trường hợp này không phải là trường hợp phạm tội giết người.

>> Xem thêm:  Thế nào là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội ? Trách nhiệm hình sự đối với người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội ra sao ?

Phạm tội chưa đạt vô hiệu tuy được coi là trường hợp đặc biệt trong nghiên cứu khoa học nhưng trong luật vẫn chỉ là trường hợp chưa đạt như mọi trường hợp chưa đạt khác. Nguyên nhân của chưa đạt vô hiệu cũng chỉ là nguyên nhân khách quan như các nguyên nhân khách quan khác. Do vậy, vấn đề trách nhiệm hình sự của chưa đạt vô hiệu cũng không có gì đặc biệt so với những trường hợp chưa đạt khác. Vì vậy, trong bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 Việt Nam không có điều luật riêng quy định về phạm tội chưa đạt vô hiệu.

Phạm tội chưa đạt tuy là những trường hợp không thực hiện tội phạm được “đến cùng” nhưng vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự vì về khách quan, người phạm tội đã có hành vi có tính gây thiệt hại cho xã hội và về chủ quan, việc phải dừng lại (chưa đạt) là do nguyên nhân ngoài ý muốn, còn người phạm tội vẫn mong muốn thực hiện tội phạm “đến cùng”. Như vậy, vấn đề trách nhiệm hình sự được đặt ra cho trường hợp phạm tội chưa đạt là có cơ sở và cần thiết. Tuy nhiên, luật hình sự Việt Nam không đặt vấn đề trách nhiệm hình sự trong trường hợp phạm tội chưa đạt như trách nhiệm hình sự trong trường hợp tội phạm hoàn thành vì tính nguy hiểm cho xã hội của hai trường hợp này có sự khác nhau.

Căn cứ để xác định trách nhiệm hình sự cụ thể cho phạm tội chưa đạt được quy định tại Điều 57 bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Trong đó, điều luật không chỉ xác định nguyên tắc:

“Đối với... phạm tội chưa đạt, hình phạt được quyết định theo các điều của Bộ luật này về các tội phạm tương ứng tuỳ theo tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vỉ, mức độ thực hiện ý định phạm tội và những tình tiết khác khiến cho tội phạm không thực hiện được đến cùng” mà còn quy định cụ thể:

“Đối với trường hợp phạm tội chưa đạt, nếu điều luật được áp dụng có quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình thì áp dụng hình phạt tù không quá 20 năm; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều ĩuật quy định”.

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến lĩnh vực hình sự về tạm giam, tạm giữ khi điều tra hình sự, Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài. Đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực hình sự luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp cụ thể.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Người dưới 18 tuổi phạm tội chưa đạt, chuẩn bị phạm tội thì xử lý thế nào ?