1. Bảo hiểm thất nghiệp là gì ?
Theo quy định tại khoản 4 Điều 3 Luật Việc làm năm 2013 thì bảo hiểm thất nghiệp là chế độ nhằm bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi bị mất việc làm, hỗ trợ người lao động học nghề, duy trì việc làm, tìm việc làm trên cơ sở đóng vào Quỹ bảo hiểm thất nghiệp. Đây được coi là một biện pháp nhằm hỗ trợ người lao động giải quyết tình trạng thất nghiệp, trợ giúp kịp thời cho người lao động trong thời gian chưa tìm kiếm được việc làm và tạo cơ hội cho họ học nghề, tìm kiếm công việc mới. Quy định tại khoản 1 Điều 43 Luật Việc làm 2013 đưa ra rằng cả người lao động và người sử dụng lao động đều có trách nhiệm tham gia loại hình bảo hiểm này.
2. Đối tượng nhận hỗ trợ quỹ bảo hiểm thất nghiệp theo Nghị quyết 116
Nghị quyết số 116/NQ-CP của Chính phủ ban hành vào ngày 24/9/2021 về chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động bị ảnh hưởng bởi đại dịch COVID-19 từ quỹ bảo hiểm thất nghiệp bởi lẽ tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp và tác động nặng nề lên nhiều mặt của đời sống xã hội, ảnh hưởng lớn đến việc làm, đời sống, thu nhập của người lao động và hoạt động sản xuất, kinh doanh của người sử dụng lao động.
Pháp luật quy định đối tượng được nhận hỗ trợ quỹ bảo hiểm thất nghiệp tại Mục II Nghị quyết này như sau :
- Người lao động đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp tại thời điểm ngày 30 tháng 9 năm 2021 (không bao gồm người lao động đang làm việc tại cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và đơn vị sự nghiệp công lập do ngân sách nhà nước bảo đảm chi thường xuyên).
- Người lao động đã dừng tham gia bảo hiểm thất nghiệp do chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc trong khoảng thời gian từ ngày 01 tháng 01 năm 2020 đến hết ngày 30 tháng 9 năm 2021 có thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp được bảo lưu theo quy định của pháp luật về việc làm, không bao gồm người hưởng lương hưu hàng tháng.
Bên cạnh đó, pháp luật cũng quy định về những đối tượng không được hưởng hỗ trợ quỹ bảo hiểm thất nghiệp theo Nghị quyết 116 :
- Người lao động đang làm việc tại cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân
- Người lao động đã dừng tham gia bảo hiểm thất nghiệp do chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc trong khoảng thời gian từ ngày 01 tháng 01 năm 2020 đến hết ngày 30 tháng 9 năm 2021 có thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp được bảo lưu theo quy định của pháp luật về việc làm, không bao gồm người đã có quyết định hưởng lương hưu hàng tháng.
- Người lao động đang làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập do ngân sách nhà nước bảo đảm chi thường xuyên theo quy định tại Nghị định số 60/2021/NĐ-CP quy định về cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập và các quy định pháp luật hiện hành về tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập.
- Những người tự nguyện không nhận hỗ trợ
3. Cách tra cứu bảo hiểm thất nghiệp theo Nghị quyết 116
Căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 3 Quyết định số 28/2021/QĐ-TTg thì đối với trường hợp người lao động đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp, cơ quan bảo hiểm xã hội lập danh sách người lao động đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo Mẫu số 01, gửi người sử dụng lao động. Chậm nhất đến hết ngày 20 tháng 10 năm 2021, cơ quan bảo hiểm xã hội hoàn thành việc gửi danh sách đến tất cả người sử dụng lao động và công khai thông tin danh sách người lao động thuộc đối tượng được hỗ trợ trên trang thông tin điện tử của cơ quan bảo hiểm xã hội cấp tỉnh.
Theo đó, người lao động được hưởng hỗ trợ từ quỹ bảo hiểm thất nghiệp theo Nghị quyết 116/NQ-CP có thể tra cứu thông tin trực tiếp trên cổng thông tin điện tử của Cơ quan Bảo hiểm xã hội Việt Nam, bao gồm các bước sau ;
Bước 1 : Đăng nhập vào cổng thông tin điện tử của Cơ quan Bảo hiểm xã hội Việt Nam
Trên trình duyệt của điện thoại hoặc máy tính, truy cập vào đường link : https://baohiemxahoi.gov.vn/tracuu/Pages/cong-khai-thong-tin-huong-ho-tro-theo-nghi-quyet-so-116nqcp.aspx
Bước 2 : Nhập thông tin cần thiết và tra cứu
Người lao động thực hiện nhập thông tin của mình vào các ô Mã số BHXH và Họ tên; sau đó chọn ô "Tôi không phải người máy" rồi nhấn nút chọn "Tra cứu"
Bước 3 : Nhận kết quả
Sau khi hoàn thành các thao tác, nếu thông tin chính xác và người lao động thuộc đối tượng được hỗ trợ sẽ thấy được bảng có các thông tin bao gồm Họ và tên, Thời gian đóng BHTN chưa hưởng trợ cấp thất nghiệp, Mức hưởng hỗ trợ theo Nghị quyết số 116/NQ-CP, Trạng thái nhận tiền hỗ trợ. Ngược lại, nếu thông tin nhập sai hay không thuộc đối tượng được hưởng hỗ trợ thì sẽ có thông báo hiển thị để sửa và cập nhật thông tin.
4. Mức hỗ trợ mà người lao động có thể được nhận
Nghị quyết 116/NQ-CP dựa vào thời gian tham gia bảo hiểm thất nghiệp tại thời điểm ngày 30 tháng 9 năm 2021 nhưng chưa hưởng trợ cấp thất nghiệp mà quy định mức hỗ trợ người lao động được hưởng. Trong trường hợp người lao động đã nộp hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp nhưng đến ngày 30 tháng 9 năm 2021 vẫn chưa có quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp thì tổng thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp chưa hưởng được xác định làm căn cứ để đưa ra mức hỗ trợ của người lao động là tổng thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp chưa hưởng tại thời điểm ngày 30 tháng 9 năm 2021.
+ Thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp mà dưới 12 tháng thì được nhận hỗ trợ 1.800.000 đồng/người
+ Thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp mà từ đủ 12 tháng đến dưới 60 tháng thì nhận hỗ trợ 2.100.000 đồng/người
+ Thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 60 tháng đến dưới 84 tháng thì được nhận hỗ trọ 2.400.000 đồng/người
+ Thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 84 tháng đến dưới 108 tháng thì được hỗ trợ 2.650.000 đồng/người
+ Thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 108 tháng đến dưới 132 tháng thì được hỗ trợ 2.900.000 đồng/ người
+ Thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 132 tháng trở lên thì hưởng hỗ trợ 3.300.000 đồng/người
Ngoài ra, công văn 3818/BHXH-CSXH có đưa ra trường hợp phát sinh điều chỉnh mức hưởng, hủy hưởng hỗ trợ sau khi đã được giải quyết hưởng hỗ trợ thì điều chỉnh lại cơ sở dữ liệu trên hệ thống và sổ BHXH.
Trường hợp người lao động tự nguyện không nhận hỗ trợ sau đó thay đổi đề nghị được hưởng hỗ trợ thì lập đề nghị hưởng hỗ trợ theo mẫu và gửi cơ quan BHXH để giải quyết, chi trả hỗ trợ cho người lao động theo hướng dẫn; thời gian nộp đề nghị chậm nhất đến hết ngày 20/12/2021. Trường hợp người lao động đã đề nghị nhận hỗ trợ sau đó thay đổi tự nguyện không nhận hỗ trợ thì người lao động thực hiện như sau :
+ Đối với người lao động đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp thì đề nghị đơn vị lập riêng danh sách các đối tượng này theo mẫu và ghi rõ tại cột ghi chú đã đề nghị hưởng hỗ trợ nay đề nghị tự nguyện không nhận hỗ trợ, nộp cho cơ quan BHXH số tiền người lao động từ chối nhận trong trường hợp đã nhận được tiền hỗ trợ trước đó
+ Đối với người lao động đã dừng tham gia bảo hiểm thất nghiệp và đã nộp mẫu theo quy định thì gửi đề nghị tự nguyện không nhận hỗ trợ, đồng thời nộp lại tiền hỗ trợ cho cơ quan BHXH nếu đã nhận trước đó.
Trên đây là toàn bộ thông tin của chúng tôi gửi đến quý khách hàng về vấn đề tra cứu bảo hiểm thất nghiệp theo Nghị quyết 116. Cảm ơn quý khách hàng đã quan tâm theo dõi bài viết của Luật Minh Khuê. Nếu có bất kỳ vướng mắc nào, quý khách hàng vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7. Gọi số 1900.6162 hoặc gửi email chi tiết tại: lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Chúng tôi rất mong nhận được sự hợp tác từ quý khách hàng. Trân trọng !