1. Khái niệm, đặc điểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 

Thiệt hại là những tổn thất thực tế được tính bằng tiền, do việc xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy, tài sản của cá nhân, tổ chức. Thiệt hại được xác định bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần. Tùy theo từng trường hợp cụ thể mà việc xác định thiệt hại được tính toán khác nhau. 

Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng còn gọi là trách nhiệm dân sự do gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật. Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại là một loại quan hệ dân sự trong đó người xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp của người khác mà gây ra thiệt hại phải bồi thường những thiệt hại do mình gây ra. (Điều 584 Bộ luật dân sự 2015)  Điều 584 BLDS 2015 thừa nhận một số giá trị của cá nhân được bảo vệ, phạm vi giá trị của cá nhân được bảo vệ rộng hơn so với giá trị của pháp nhân được bảo vệ.  

Được quy định cụ thể tại Điều 605 BLDS 2015. Nguyên tắc chung là thiệt hại phải bồi thường toàn bộ, kịp thời, xuất phát từ đặc trưng của bồi thường là thiệt hại. Tất cả các hành vi nào đó gây ra cụ thể là bao nhiêu sẽ phải bồi thường cho hành vi đó. Ví dụ: A đang đi trên đường thì bị B đi ngược đường đâm vỡ đèn pha ô tô, theo đó B phải bồi thường toàn bộ thiệt hại từ hành vi của mình là đèn pha ô tô đó. Bản chất của quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một quan hệ dân sự, có thể được phát sinh dựa trên ý trí thỏa thuận của các bên trong quan hệ hợp đồng. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cho phép các bên chủ thể được thỏa thuận về việc bồi thường như mức bồi thường (nhỏ hơn giá trị thiệt hại thực tế), phương thức bồi thường (1 lần hay nhiều lần), thiệt hại cụ thể… Đối với nguyên tắc giảm bồi thường được luật ghi nhận trong trường hợp người gây thiệt hại do lỗi vô ý hoặc không có lỗi mà gây ra một thiệt hại thực tế quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của người có trách nhiệm bồi thường thiệt hại thì sẽ có quyền yêu cầu giảm mức bồi thường. Ví dụ: đang đi xe máy trên đường vì tránh xe đi ngược chiều mà đâm phải xe ô tô mới đỗ ở vệ đường khi bị yêu cầu bồi thường thiệt hại căn cứ vào lỗi vô ý gây ra thiệt hại kinh tế quá lớn có quyền yêu cầu giảm mức bồi thường. Ngoài ra pháp luật còn cho phép thay đổi mức bồi thường phù hợp với thực tế, căn cứ vào khả năng của người có trách nhiệm phải bồi thường, tình trạng, chuyển biến thực tế của người được bồi thường cụ thể. Ví dụ: xe tải vượt đèn đỏ đâm phải một người làm cho người đấy bị mất khả năng lao động, phải bồi thường thiệt hại như viện phí, cấp dưỡng hàng tháng…. Khi ra tòa, tòa sẽ cho các bên thỏa thuận trước, quy định về mức cấp dưỡng cụ thể phụ thuộc vào khả năng kinh tế của người gây thiệt hại, nhu cầu sống tối thiểu của người được cấp dưỡng. Nếu không phù hợp có thể yêu cầu thay đổi mức bồi thường.

 

2. Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là những yếu tố, những cơ sở để xác định trách nhiệm bồi thường, mức độ bồi thường, người phải bồi thường và người được bồi thường. Căn cứ pháp lý Nghị quyết số 03/2006/HĐTP-TANDTC ngày 8/7/2006 hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLDS về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, 4 điều kiện:

 

2.1. Có thiệt hại xảy ra:

Thiệt hại được hiểu là những hậu quả bất lợi ngoài ý muốn về vật chất hoặc tinh thần do một hành vi trái pháp luật gây ra cho xã hội. Xác định được thiệt hại là cơ sở xác định được mức phải bồi thường. Thiệt hại phải được xác định một cách cụ thể, chi tiết, tính ra một số tiền cụ thể. Thiệt hại có thể là thiệt hại trực tiếp và thiệt hại gián tiếp.

- Thiệt hại trực tiếp: tổn thất thực tế do hành vi đó gây ra

- Thiệt hại gián tiếp: liên quan đến lợi ích gắn liền tài sản khi không khai thác được trong thời hạn bị thiệt hại

 

2.2. Hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật

Hành vi gây thiệt hại thường là hành vi vi phạm các quy định của luật, được thể hiện dưới dạng hành động hoặc không hành động. Bên cạnh đó có cá hành vi gây thiệt hại nhưng không phải hành vi trái luật ví dụ: gây thiệt hại trong phòng vệ chính đáng thì không phải hành vi tội phạm (hình sự), còn trong dân sự quy định gây thiệt hại trong phòng vệ chính đáng thì không phải chịu trách nhiệm bồi thường.

 

2.3. Có lỗi của người gây ra thiệt hại:

Lỗi là một trong những điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nhưng lỗi trong trách nhiệm dân sự có những trường hợp là lỗi suy đoán. Bởi hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật nên người thực hiện hành vi đó bị suy đoán là có lỗi. Lỗi được cấu thành bởi hai yếu tố:

+ Ý chí bên trong của người thực hiện hành vi

+ Biểu hiện bên ngoài của lỗi, hành vi đó (hành vi trái luật)

Con người phải chịu trách nhiệm khi họ có lỗi, có khả năng nhận thức và làm chủ được hành vi của mình. Bởi vậy những người không có khả năng nhận thức và làm chủ được hành vi của mình được coi là không có lỗi trong việc thực hiện các hành vi đó. Những người chưa có năng lực hành vi, bị mất năng lực hành vi, không thể nhận thức và làm chủ được hành vi thì không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Trong trách nhiệm dân sự do gây thiệt hại vấn đề hình thức và mức độ lỗi ảnh hưởng rất ít đến việc xác định trách nhiệm. Thậm chí người gây ra thiệt hại phải bồi thường cả trong trường hợp không có lỗi (khoản 3 Điều 623 BLDS). 

Các trường hợp không có yếu tố lỗi được loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại: sự kiện bất khả kháng do lỗi của người bị thiệt hại, gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết, gây thiệt hại trong trường hợp phòng vệ chính đáng…

 

2.4. Có mỗi liên hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi trái pháp luật

Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại thể hiện ở chỗ sự thiệt hại đó là do chính hành vi trái pháp luật đó trực tiếp gây ra, nghĩa là, sự thiệt hại là hậu quả tất yếu của hành vi trái pháp luật. Trong trường hợp nhiều người gây ra thiệt hại cho một người thì phải liên đới chịu trách nhiệm cho thiệt hại. Ví dụ: 3 người xông vào đánh 1 người thì phải chịu trách nhiệm liên đới. Trường hợp người gây thiệt hại và người bị thiệt hại đều có lỗi chỉ phải BTTH tương ứng với mức độ lỗi.

 

3. Về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân 

 BLDS 2015 quy định độ tuổi để cá nhân phải tự bồi thường vẫn là từ đủ 18 tuổi trở lên. BLDS 2015 đã quy định phạm vi của chủ thể chịu trách nhiệm trong trường hợp này hẹp hơn, pháp nhân là một chủ thể cụ thể, được thành lập hợp pháp và có đủ điều kiện quy định tại Điều 74 Bộ luật này. Trong khi đó, tổ chức khác có thể là bất cứ một tổ chức đông người, có cùng mục đích, hoạt động cùng nhau và có thể không có sự ràng buộc giữa cá nhân với tổ chức. Quy định này có thể được coi là một thay đổi tích cực vì với những tổ chức không có quy mô, cơ cấu rõ ràng thì tài sản của tổ chức có thể không cố định, không đảm bảo được việc chịu trách nhiệm bồi thường khi có thiệt hại xảy ra, gây có khó khăn khi phải chịu trách nhiệm và có thể thiệt thòi cho những người bị thiệt hại.

Ngoài ra, khoản 3 Điều 586 BLDS 2015 quy định thêm đối tượng là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi gây thiệt hại mà có người giám hộ thì người giám hộ đó được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường. Đây cũng được coi là sự thay đổi tích cực khi quy định thêm đối tượng chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Những người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi mặc dù là một trong những chủ thể bị hạn chế thực hiện các giao dịch dân sự nhưng cũng không thể loại bỏ trách nhiệm khi người này gây ra thiệt hại và phải chịu trách nhiệm bồi thường theo quy định.

 

4. Xác định thiệt hại ngoài hợp đồng

4.1. Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm:

Theo Điều 589 Bộ luật dân sự 2015 thì thiệt hại do tài sản bị xâm phạm được bồi thường bao gồm:

+ Tài sản bị mất, bị hủy hoại: Cần xác định giá trị thực tế của tài sản để buộc người gây thiệt hại phải bồi thường toàn bộ giá trị tài sản. Giá trị của tài sản không thống nhất ở thời điểm gây thiệt hại và thời điểm bồi thường. Do đó, khi xác định giá trị của tài sản lưu ý xác định giá trị thực tế của tài sản vào thời điểm tòa án xét xử sơ thẩm để buộc người gây thiệt hại phải bồi thường cho người bị thiệt hại.

+ Tài sản bị hư hỏng: Hành vi trái pháp luật của người gây thiệt hại làm cho tài sản bị hư hỏng, không còn tình trạng nguyên vẹn như trước khi bị thiệt hại và cần phải bỏ ra chi phí để sửa chữa tài sản. Do đó, trong trường hợp tài sản bị hư hỏng thì chi phí sửa chữa, thay thế các bộ phận hư hỏng của tài sản cũng được xác định là thiệt hại và người gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm bồi thường những khoản này.

+ Lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản: Đây là thiệt hại gián tiếp liên quan đến tài sản bị thiệt hại. Tài sản luôn chứ đụng trong nó những lợi ích nhất định, những lợi ích này sẽ thu được thông qua hành vi khai thác, sử dụng của con người. Lợi ích gắn liền với việc khai thác, sử dụng tài sản có thể được hiểu là những lợi ích vật chất cụ thể mà người bị thiệt hại không thu được kể từ khi tài sản bị xâm phạm (hoa màu không thu hoạch được, xe ô tô bị hư hỏng nặng không thể sử dụng để làm taxi,…).

+ Chi phí hợp lí để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại: Người bị thiệt hại đã phải bỏ ra các chi phí để ngăn chặn, không cho thiệt hại tiếp tục phát sinh hoặc phải bỏ ra các chi phí để ngăn chặn, không cho thiệt hại tiếp tục phát sinh hoặc phải bỏ ra chi phí khác để khắc phục thiệt hại.

Như vậy, thiệt hại về tài sản bao gồm thiệt hại trực tiếp nhằm phục hồi tình trạng tài sản ban đầu của người bị thiệt hại và thiệt hại gián tiếp liên quan đến việc khai thác và sử dụng tài sản trong thời gian từ khi xảy ra thiệt hại đến khi bồi thường. Thiệt hại về tài sản có thể tính toán được thành một số tiền nhất định bao gồm các khoản sau:

Thiệt hại trực tiếp bao gồm

+ Thiệt hại do tài sản bị mất ( tính đến tình trạng tài sản, thời giá thị trường tại thời điểm tài sản bị mất)

+ Tài sản bị hủy hoại là những tài sản không thể phục hồi chức năng ban đầu; tài sản bị hư hỏng là những chi phí hợp lí, cần thiết để phục hồi tài sản, bảo đảm tính năng sử dụng ban đầu như trước khi bị thiệt hại

+ Những chi phí phải bỏ ra bao gồm chi phí để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại hoặc khắc phục thiệt hại

– Thiệt hại gián tiếp bao gồm:

+ Lợi ích gắn liền với việc khai thác tài sản ( không thể khai thác tài sản trong suốt thời gian sửa chữa, khắc phục thiệt hại)

+ Những hoa lợi, lợi tức chắc chắn thu được nếu không có thiệt hại xảy ra và những chi phí cần thiết để hạn chế thiệt hại

Việc bồi thường thiệt hại trực tiếp về tài sản có thể thực hiện bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc. Về nguyên tắc chung, các bên có thể thỏa thuận cách thức, mức độ bồi thường như sửa chữa hư hỏng, thay thế bằng tài sản khác có giá trị tương đương. Nếu không thể bồi thường bằng hiện vật thì trị giá tài sản để bồi thường. Khi trị giá tài sản phải căn cứ vào giá trị thị trường của loại tài sản đó có tính đến khấu hao tài sản do đã sử dụng tài sản.

 

4.2. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm

Sức khỏe của con người khó có thể xác định bằng một khoản tiền. Vì vậy, bồi thường thiệt hại về sức khỏe thực chất có ý nghĩa đền bù một phần thiệt hại về vật chất, tạo điều kiện cho nạn nhân hay gia đình họ khắc phục khó khăn do tai nạn gây nên và trong có ý nghĩa là một trợ cấp cho nạn nhân, gia đình nạn nhân.

Xác định thiệt hại về sức khỏe bao gồm:

– Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại ( tiền thuốc, tiền viện phí và các dịch vụ chữa bệnh, tiền bồi dưỡng, tiền tàu xe đi viện, tiền thay thế các bộ phận giả nếu có) Nếu do yêu cầu chăm sóc nạn nhân thì chi phí trực tiếp cho người phải chăm sóc nạn nhân theo yêu cầu của cơ sở chữa bệnh.

– Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;

– Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại;

– Thiệt hại khác do luật quy định, cụ thể:

+ Thu nhập bị giảm sút là khoản chênh lệch giữa thu nhập trước khi xảy ra tai nạn và sau khi điều trị. Những thu nhập này phải là những thu nhập thường xuyên, hợp pháp thực tế của họ;

+ Tổn thất về tinh thần mà nạn nhân phải gánh chịu. Đây là khái niệm trừu tượng và không thể tính được thành tiền một cách chính xác. Việc xác định tổn thất tinh thần khi sức khỏe bị xâm phạm phụ thuộc vào từng cá nhân của người bị thiệt hại ( tình trạng gia đình, độ tuổi, nghề nghiệp, mức độ thiệt hại và tùy thuộc vào bộ phận nào của cơ thể bị thiệt hại,..) Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có sức khỏe xâm phạm không quá 50 lần mức tháng lương cơ sở do nhà nước quy định.

Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp sức khỏe của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá năm mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.

 

4.3. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm

Tính mạng của con người vô giá và không thể tính thành tiền. Vì vậy, bồi thường thiệt hại về tính mạng thực chất là bồi thường vật chất phải bỏ ra liên quan đến cái chết của người bị thiệt hại. Những chi phí phải bỏ ra bao gồm:

– Chi phí bỏ ra trong trường hợp thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm đã nêu ở trên

– Những chi phí hợp lí cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc nạn nhân trước khi chết, chi phí hợp lí cho việc mai táng phù hợp với phong tục, tập quán.

– Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng ( con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động..,..)

– Thiệt hại khác do luật quy định, cụ thể: Một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có tính mạng bị xâm phạm không quá một trăm lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.

 

4.4. Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm

Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân không thể xác định. Thực chất là xác định những tổn thất về vật chất do danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân bị xâm phạm,.. nhằm phục hồi tình trạng ban đầu của người bị xâm hại. Những chi phí đó bao gồm:

– Những chi phí phải bỏ ra và thu nhập bị mất ( thu nhập chứng cứ, thời gian phải bỏ ra để khiếu nại, đăng báo cải chính,..)

– Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại;

– Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút;

– Thiệt hại khác do luật quy định.

Người xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác phải bồi thường một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm không quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.

 

5. Một số câu hỏi liên quan đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại

5.1 Liên đới bồi thường thiệt hại là như thế nào?

Liên đới bồi thường thiệt hại là hình thức trách nhiệm dân sự nhằm buộc bên có hành vi gây thiệt hại phải khắc phục hậu quả bằng cách đền bù các tổn thất về vật chất và tổn thất tinh thần cho bên bị thiệt hại trong trường hợp nhiều người cùng gây thiệt hại cho người bị thiệt hại.

 

5.2 Mức bồi thường thiệt hại nếu do nhiều người cùng gây ra?

Điều 587 Bộ Luật dân sự 2015 quy định như sau: "Trường hợp nhiều người cùng gây thiệt hại thì những người đó phải liên đới bồi thường cho người bị thiệt hại. Trách nhiệm bồi thường của từng người cùng gây thiệt hại được xác định tương ứng với mức độ lỗi của mỗi người; nếu không xác định được mức độ lỗi thì họ phải bồi thường thiệt hại theo phần bằng nhau." Như vậy, để xác định mức bồi thường thiệt hại do nhiều người cùng gây ra thì phải căn cứ vào mức độ gây thiệt hại do lỗi của từng người gây ra.

 

5.3 Trường hợp phát sinh trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại

-  Có thiệt hại thực tế xảy ra

- Hành vi của những người liên đới gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật

- Hành vi của những người gây thiệt hại cũng dẫn đến một hậu quả

- Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật của những người cùng gây thiệt hại với hậu quả xảy ra.