1. Khái quát chung

Trong khoa học Luật dân sự, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được tiếp cận từ nhiều góc độ, là một bộ phận hợp thành của chế định trách nhiệm dân sự, là quan hệ pháp luật dân sự phát sinh giữa chủ thể gây thiệt hại và chủ thể bị thiệt hại, là biện pháp cưỡng chế áp dụng đối với chủ thể có hành vi trái pháp luật, gây thiệt hại cho chủ thể khác. Cấu trúc căn bản cần nhận diện đối với một quan hệ pháp luật dân sự liên quan đến ba yếu tố là chủ thể, khách thể, nội dung mối quan hệ. Trong quan hệ hợp đồng, khi một bên lý kết có hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng không đầy đủ nghĩa vụ đã thỏa thuận, gây thiệt hại cho bên chủ thể ký kết khác thì việc bồi thường thiệt hại sẽ được giải quyết trong khuôn khổ quan hệ hợp đồng đã ký kết. So với quan hệ hợp đồng, quan hệ pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng chỉ đặt ra khi có sự kiện pháp lý gây thiệt hại từ hành vi trái pháp luật do một chủ thể quan hệ pháp luật đối với một chủ thể khác. Trong thực tiễn, hầu hết các hành vi trái pháp luật của các chủ thể, dưới nhiều hiình thức khác nhau đều có thể gây ra những thiệt hại về tài sản, tính mạng, sức khỏe, danh sự, nhân phẩm và uy tín cho chủ thể khác. Kế thừa và sửa đổi quy định tại Điều 584 bộ luật dân sự 2015 fhi nhận :"người nào có hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự nhân phẩm, uy tín , tài sản, quyền lơik lợi ích hộp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trươdnf hợp bộ luật này hoặc luật khác có liên quan quy định khác". Đây là trách nhiệm dân sự mang tính tài sản, nhằm khôi phục tình trạng tài sản và xác lập lại các quyền, lợi ích bị xâm phạm của người của người bị thiệt hại. Hậu quả của việc áp dụng trách nhiệm bồi thường luôn mang đến những bất lợi về tài sản cho người gây ra thiệt hại để bù đắp những tổn thất đã gây ra cho các chủ thể khác. 

2. Nhận diện tổng quát về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

2.1 Có thiệt hại xảy ra 

Nhận diện, đánh giá đúng và phù hợp về thiệt hại xảy ra trong giải quyết trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là yêu cầu bất buộc, có ý nghĩa quyết định khi đặt vấn đề xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại giữa các bên có liên quan. Thông thường, thiệt hại được hiểu là sự mất mát hoặc giảm sút về lợi ích vật chất (theo cách hiểu của Luật La Mã gồm thiệt hại thực, là sự mất đi của một tài sản cụ thể và bỏ mất lợi ích, tức là sự mất mát tài sản có thể nếu hoàn cảnh diễn ra bình thường, hay còn gọi là thiệt hại phái sinh) có thể tính toán được thành một số tiền nhất định và các tổn thất về tinh thần. Về cơ bản các khoản thiệt hại về vật chát và thiệt hại do tổn thất về tinh thần được xác định bao gồm: Những chi phí phải bỏ ra để ngăn chặn, hạn chế hoặc khắc phục thiệt hại gồm tiền thuốc, tiền điều trị, bồi dưỡng, tiền mai táng phí, tiền sữa chữa tài sản. Những tổn thất về tài sản bị mất bị hư hởng. Những thu nhập không thu được hoặc bị giảm sút (của người bị thiệt hại hoặc người chăm sóc người bị thiệt hại). Khoản bù đắp về thất về tinh thần. Một trong những nguyên tắc căn bản khi giải quyết  bồi thường thiệt hại là chỉ bồi thường đối với thiệt hại chắc chắn, thực tế, tức là không phải thiệt hại do suy diễn và chưa được bồi thường . Điều này có nghĩa , người bị thiệt hại phải có nghĩa vụ chứng tỏ những thiệt hại mình đã gánh chịu, như các chứng từ thanh toán việc cứu chữa, phục hồi sức khỏe, tiền mai táng phí, tiền sửa chữa tài sản, chi phí để cơ quan có thẩm quyền ban hành kết luận giám định.... đồng thời thiệt hại xảy ra phải có tính thực tế, có thể tính toán được. Người phải bồi thường có quyền phản bác những thiệt hại không thực tế mà người bị thiệt hại đã đưa ra yêu cầu đòi bồi thường. 

Những thiệt hại về vật chất có thể tính toán được một cách tương tương đối chính xác một bằng một khoản tiền thì những thiệt hại do tổn thất về tinh thần của cá nhân là sự đau đớn, xấu hổ, mất uy tín, bị bạn bè xa lánh... của người bị thiệt hại và nỗi đau thương, buồn phiền cô đơn, góa bụa của những người thân tích, gần gũi nhất của người bị thiệt hại phải chịu cũng được xác định bằng một khỏan tiền nhằm bù đắp phần nào những tổn thât tinh thần mà họ và những người thân đã phải gánh chịu. Đối với pháp nhân và các chủ thể khác không có tư cách pháp nhân gọi chung là tổ chức thì thiệt hại do tổn thất về tinh thần của họ được hiểu là do danh dự, uy tín bị xâm phạm, bị giảm sút hoặc mất đi sự tín nhiệm, lòng tin...vì bị hiểu lầm, được xác định bằng một khỏan tiền bồi thường, nhằm bù đắp tổn thất thát mà tổ chức đó phải gánh chịu. 

2.2 Phải có hành vi trái pháp luật

Hành vi trái pháp luật là những xử sự cụ thể của con người được thể hiện thông qua hành động hoặc không hành động trái với các quy định của pháp luật. Có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra và hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại. Một trong những căn cứ phát sinh nghĩa vụ dân sự theo quy định của Bộ luật dân sự là gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật. Hành vi này được hành động hoặc không hành động trái với các quy định của pháp luật và là nguyên nhân gây ra thiệt hại. Trách nhiệm bồi thường gây thiệt hại ngoài hợp đồng sẽ không phát sinh nếu thiệt hại xảy ra không phải là kết quả tất yếu của hành vi trái pháp luật từ phía người gây thiệt hại. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng sẽ không phát sinh nếu thiệt hại xảy ra không phải là kết quả tất yếu của hành vi trái pháp luật của từ phía người gây thiệt hại.Trong quá trình xác định trách nhiệm bồi thường, cần xét đến mối quan hệ tổng hợp giữa các nguyên nhân, bởi nó cũng bao hàm sự tác động qua lại của người hiện tượng chứa đựng khả năng thực tế làm phát sinh thiệt hại nhằm bảo đảm tính khách quan của sự vật, hiện tượng.

2.3 Có lỗi của người gây thiệt hại

Hành vi gây thiệt hại sẽ bị coi là có lỗi nếu hành vi đó là kết quả của sự tự lựa chọn và quyết định của chủ thể trong khi chủ thể có đủ điều kiện để tự do lựa chọn và quyết định một xử sự khác phù hợp với lợi ích của xã hội, Nhà nước và các chủ thể khách. Điều 364 Bộ luật dân sự 2015 quy định hai hình thức lỗi trong trách nhiệm dân sự là: lỗi vô ý và lỗi cố ý. Cụ thể như sau:

+ Lỗi cố ý gây thiệt hại được hiểu là một người nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc tuy không mong muốn nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra

+ Lỗi vô ý gây thiệt hại được hiểu là một người không thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, mặc dù phải biết hoặc có  thể biết trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được.

Sự phân biệt mức độ lỗi cố ý và lỗi vô ý là căn cứ để xem xét giảm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do chính hành vi gây thiệt hại do lỗi vô ý đã gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của mình theo quy định tại khoản 2 Điều 585 Bộ luật dân sự 2015 về nguyên tắc bồi thường thường thiệt hại. Đối với những vụ án phức tạp, thiệt hại thì cần phân tích tích để nhận diện chính xác mức độ tuổi của các bên trên có cơ sở mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra tường ứng với mức độ lỗi của mỗi bên để tính toán các khoản đền bù thiệt hại cho phù hợp. Nếu lỗi hoàn toàn thuộc về phía người bị thiệt hại thì người gây thiệt hại sẽ không phải chịu trách nhiệm bồi thường những thiệt hại đó.

Cần chú ý bộ luật dân sự còn có quy định việc bồi thường thiệt hại cả kho không có lỗi trong một số trường hợp như: Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra; Bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường, bồi thường do súc vật, cây cối, nhà cửa công trình xây dựng khác gây ra...như vậy đối với trường hợp pháp luật có quy định việc bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi, thì trách nhiệm bồi thường của người gây thiệt hại cả khi không có lỗi, thì trách nhiệm bồi thường của người gây thiệt hại trong trường hợp này được thực hiện theo quy định của văn bản quy phạm pháp luật đó.

3, Năng lực của chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Điều 586 Bộ luật dân sự 2015 quy định năng lực chịu trách nhiệm bồi thường của cá nhân gây thiệt hại như sau: Người từ đủ mười tám tuổi trở lên gây thiệt hại thì phải tự bồi thường. Người chưa đủ mười lăm tuổi, gây thiệt hại mà còn cha mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu, trừ trường hợp quy định tại Điều 599 của bộ luật dân sự 2015. 

Người từ đủ mười tám tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình, nếu không đủ tài sản đề bồi thường thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình. Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự người có khó khăn trong nhận thức làm chủ hành vi gây thiệt hại mà có người giám hộ thì người giám hộ đó được dùng tài sản của người giám hộ để bồi thường, nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình, nếu người giám hộ không chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường. Bộ luật dân sự đã bổ sung trường hợp người có khó khăn trong nhận thức làm chủ hành vi trong nhận thức làm chủ hành vi của mình bên cạnh các hợp người chưa thành niên, người mát năng lực hànhg vi dân sự mà có người giam hộ và gây thiệt hại. Bộ luật dân sự quy định về nguyên tắc những thiệt hại ngoài hợp đồng phải được bồi thường toàn bộ. Điều này được hiểu là thiệt hại đã xảy ra là bao nhiêu, gồm những khoản nào thì người gây thiệt hại phải bồi thường toàn bộ các khoản thiệt hại đó tương ứng với mức độ lỗi của các bên trong trường hợp cụ thể