Luật sư tư vấn:

Trước khi phân biệt bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng với trách nhiệm vật chất của cán bộ, công chức nhà nước, chúng ta cần phải hiểu rõ từng khía cạnh nội dung một. 

 

1. Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là gì?

Do sự phát triển của xã hội, các chế định pháp luật cũng dần thay đổi, trách nhiệm bồi thường thiệt hại không còn được coi là hình phạt mà là nghĩa vụ, bổn phận của người bị thiệt hại phải bồi thường cho người bị thiệt hại nhằm phục hồi tình trạng của người bị thiệt hại.

Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một chế định quan trọng trong luật dân sự. Theo quy định tại Điều 275 Bộ luật dân sự năm 2015 thì một trong những căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ dân sự là sự kiện "gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật" và tương ứng với căn cứ này là các quy định tại Chương XX, phần thứ ba Bộ luật dân sự "Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng". Sự kiện gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật là căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Trong trường hợp này, trách nhiệm được hiểu là bổn phận, nghĩa vụ của người gây thiệt hại phải bồi thường cho người bị thiệt hại. Nhà làm luật trong trường hợp này đã đồng nghĩa trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng với "Nghĩa vụ phát sinh do hành vi trái pháp luật" điều 584 Bộ luật dân sự đã xác định sự đồng nghĩa này bằng quy định:

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại làm phát sinh nghĩa vụ bồi thường và từ nghĩa vụ phải bồi thường thiệt hại tạo ra quan hệ nghĩa vụ tương ứng với khái niệm nghĩa vụ được quy định tại điều 247 Bộ luật dân sự năm 2015:

"Nghĩa vụ là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (sau đây gọi chung là bên có quyền)".

Từ quy định này có thể nêu khái niệm về nghĩa vụ bồi thường thiệt hại như sau:

Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại là một loại quan hệ dân sự, trong đó người xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền và lợi ích của người khác mà gây thiệt hại phải bồi thường những thiệt hại do mình gây ra.

Trong quan hệ nghĩa vụ này, chủ thể tham gia có thể là cá nhân, pháp nhân. Chủ thể bị thiệt hại (người có quyền) và chủ thể gây thiệt hại (người có nghĩa vụ) là các bên tham gia vào các quan hệ đó. Bên có quyền cũng như bên có nghĩa vụ có thể có một hoặc nhiều người tham gia. Nghĩa vụ hoặc quyền của họ có thể liên đới, riêng rẽ hoặc theo phần tùy điều kiện, hoàn cảnh và đối tượng bị xâm hại. 

Khách thể của quan hệ nghĩa vụ này luôn thể hiện dưới dạng "Hành động" phải thực hiện hành vi "bồi thường" cho người bị thiệt hại. Cơ sở phát sinh nghĩa vụ bồi thường thiệt hại là sự kiên "gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật" cho các chủ thể khác. Trách nhiệm bồi thiệt hại thể hiện trong nghĩa vụ bồi thường thiệt hại được gọi là trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, để phân biệt với trách nhiệm theo hợp đồng. Cơ sở của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do pháp luật quy định xuất phát từ những nguyên tắc chung được quy định của Hiến Pháp (các quy định từ Điều 14 đến Điều 21 Hiến pháp năm 2013) và các nguyên tắc được quy định trong Bộ luật dân sự (điều 3 Bộ luật dân sự năm 2015). Khoản 4 Điều 3 Bộ luật dân sự năm 2015 quy đinh:

"Việc xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự không được xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác".

Nguyên tắc được quy định trong điều này buộc các chủ thể "không được xâm phạm", bởi vậy nếu "xâm phạm" sẽ bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế với mục đích khắc phục những hậu quả về tài sản cũng như nhân thân do hành vi gây thiệt hại tạo ra.

 

2. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Trách nhiệm dân sự nói chung và trách nhiệm bồi thường thiệt hại nói riêng mang đặc tính của trách nhiệm dân sự. Đó là trách nhiệm tài sản nhằm khôi phục tình trạng tài sản của người bị thiệt hại do cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng. Tuy nhiên, việc khôi phục tình trạng tài sản bằng biện pháp bồi thiệt hại của người gây ra thiệt hại không bao giờ cũng đem lại hậu quả như mong muốn. Vì rất nhiều nguyên nhân khác nhau, người gây ra thiệt hại không thể bồi thường và người bị thiệt hại không thể "phục hồi lại tình trạng tài sản ban đầu" như trước khi bị thiệt hại. Bởi vậy, cần có các cơ chế và các hình thức khác để khắc phục tình trạng tài sản của người bị thiệt hại. Bởi vậy, cần có các cơ chế và các hình thức khác để khắc phục tình trạng tài sản của người bị thiệt hại (các loại hình bảo hiểm đang đi theo hướng này và ngày càng đóng vai trò quan trọng, có hiệu quả nhằm phục hồi, hạn chế thiệt hại của người bị thiệt hại do các hành vi trái pháp luật gây ra).

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại không chỉ nhằm đảm bào việc đền bù tổn thất đã gây ra mà còn giáo dục mọi người ý thức tuân thủ pháp luật, bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Hậu quả của việc áp dụng trách nhiệm mà họ đã gây ra cho các chủ thể khác, đặc biệt đối với hành vi phạm tội với động cơ vụ lợi. Vì vậy, trong pháp luật dân sự không thể coi trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là việc áp dụng một biện pháp hình sự hay hình phạt phụ. Điều 46 Bộ luật hình sự quy định bồi thường thiệt hại là biện pháp tư pháp mà không quy định nó trong danh mục hình phạt chính hay phụ. Mối quan hệ giữa trách nhiệm và nghĩa vụ trong luật dân sự hiện đang còn nhiều tranh luận. Nghĩa vụ - trách nhiệm, cái nào có trước, cái nào phát sinh ra cái nào, mối tương quan giữa chúng ra sao? Chúng tôi cho rằng các chủ thể đều có những nghĩa vụ (nghĩa vụ dưới dạng là bộ phận của nội dung quan hệ pháp luật), nếu vi phạm các nghĩa vụ này, chủ thể sẽ phải chịu hậu quả của việc áp dụng trách nhiệm. Đó là hậu quả bất lợi đối với người vi phạm - họ buộc phải thực hiện hoặc không thực hiện những hành vi nhất định.

Trách nhiệm bồi thường thiệt hai ngoài hợp đồng khác với trách nhiệm hình sự. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được áp dụng với mọi cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác nhưng trách nhiệm hình sự hỉ áp dụng đối với cá nhân hoặc pháp nhân thương mại.

Chế tài trong hình sự được áp dụng nhằm tác động vào nhân thân kẻ phạm tội. Chế tài này có thể nặng hay nhẹ tùy thuộc vào mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi do cá nhân thực hiện và các yếu tố chủ quan cũng như khách quan khác. Trong đó, hình thức lỗi đóng vai trò đặc biệt quan trọng, nhiều tội phạm không cần có dấu hiệu thiệt hại vật chất. Tòa không thể tuyên phạt một chủ thể nào đó về một hành vi mà luật hình sự không quy định đó là tội phạm. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng dựa trên cơ sở thiệt hại đã xảy ra, lỗi chỉ là cơ sở của trách nhiệm chứ không phải là thước đo để xác định mức độ trách nhiệm. Việc xem xét đến mức độ lỗi được đặt ra trong trường hợp thiệt hại xảy ra quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của người gây ra thiệt hại. Mặt khác, lỗi là yếu tố cấu thành trách nhiệm dân sự nhưng ngoại trừ trường hợp cố ý, còn tất cả trường hợp khác chỉ cần người gây ra thiệt hại nhận thức được hành vi của họ là trái với những quy tắc xử sự chung, có thể bị mọi người lên án là trái với đạo đức đề bị coi là có lỗi. Do đó, trong luật dân sự quy định một nguyên tắc tổng quát về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng mà không quy định những hành vi bào là có lỗi và phải chịu chế tài. Nếu người có hành vi vi phạm gây ra thiệt hại cho cá nhân hoặc các tổ chức thì họ phải bồi thường thiệt hại đã gây ra.

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng khác với trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng. trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng là trách nhiệm dân sự phát sinh do không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo hợp đồng. Đặc điểm của loại trách nhiệm này là giữa hai bên (bên chịu trách nhiệm và bên bị thiệt hại) có quan hệ hợp đồng và thiệt hại phải do hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã gây ra. Trong trường hợp các bên có quan hệ hợp đồng nhưng thiệt hại xảy ra không liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng, trách nhiệm này là trách nhiệm ngoài hợp đồng. Trong trường hợp gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe , dù hai bên có quan hệ hợp đồng hay không có quan hệ hợp đồng, trong thực tiễn xét xử đều áp dụng trách nhiệm ngoài hợp đồng. Trong trường hợp gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, dù hai bên có quan hệ hợp đồng hay không có quan hệ hợp đồng, trong thực tiễn xét xử đều áp dụng trách nhiệm bồi thường bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Đây là áp dụng tương tự pháp luật, vì trong các quy định chung về nghĩa vụ không có các quy định cụ thể về cách tính thiệt hại.

 

3. Trách nhiệm vật chất của cán bộ, công chức

Trách nhiệm vật chất của cán bộ, công chức được hiểu là trách nhiệm bồi thường bằng tiền. Trách nhiệm vật chất của cán bộ, công chức gồm trách nhiệm bồi thường thiệt hại và trách nhiệm hoàn trả.

Cán bộ công chức có hành vi vi phạm quy định của pháp luật, làm mất mát, hư hỏng trang thiết bị hoặc gây ra thiệt hại về tài sản của cơ quan, đơn vị thì phải bồi thường thiệt hại.

Quá trình xem xét việc bồi thường thiệt hại được tiến hành trên cơ sở những nguyên tắc sau đây:

Phải căn cứ vào lỗi, tính chất của hành vi gây thiệt hại, mức độ thiệt hại để quyết định mức và phương thức bồi thường thiệt hại, bảo đảm khách quan, công bằng và công khai.

Việc công chức bị xử lý kỷ luật không loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Trường hợp có nhiều cán bộ, công chức cùng làm mất mát, hư hỏng hoặc gây thiệt hại đến tài sản của cơ quan, đơn vị thì họ phải liên đới chịu trách nhiệm vật chất trên cơ sở mức độ thiệt hại tài sản thực tế và mức độ lỗi của mỗi người.

Trường hợp thiệt hại vật chất xảy ra do nguyên nhân bất khả kháng thì cán bộ, công chức không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Cán bộ công chức có hành vi vi phạm pháp luật trong khi thi hành công vụ gây thiệt hại cho người khác thì phải hoàn trả cho cơ quan, đơn vị số tiền mà cơ quan, đơn vị đã bồi thường cho người thiệt hại.

Việc bồi thường thiệt hại do cán bộ công chức gây ra trong khi thi hành công vụ được tiến hành theo hai bước:

Cơ quan, đơn vị bồi thường cho người bị thiệt hại.

Công chức gây thiệt hại hoàn trả khoản tiền mà cơ quan, đơn vị đã bồi thường cho người bị thiệt hại.

Sau khi đã bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại, thủ trưởng cơ quan, đơn vị thành lập hội đồng xét giải quyết việc hoàn trả, bồi thường thiệt hại. Hội đồng có trách nhiệm giúp thủ trưởng cơ quan, đơn vị xem xét, đánh giá thiệt hại mức độ và khả năng kinh tế của cán bộ, công chức; trên cơ sở đó kiến nghị mức hoàn trả và phương pháp hoàn trả. 

 

4. Trách nhiệm bồi thường, hoàn trả của cán bộ, công chức

4.1 Trách nhiệm bồi thường của cán bộ, công chức

Theo nghị định 118/2006/NĐ-CP về xử lý trách nhiệm vật chất đối với cán bộ, công chức: Nghị định gồm 3 chương, 16 Điều, quy định về xử lý trách nhiệm vật chất đối với cán bộ công chức có hành vi vi phạm các quy định của pháp luật, làm mất mát, hư hỏng trang thiết bị hoặc gây thiệt hại về tải sản của cơ quan, tổ chức, đơn vị nhưng chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự. Nghị định nêu rõ, cán bộ, công chức gây thiệt hại về vật chất có trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quyết định của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc có thẩm quyền. Nếu cán bộ, công chức không đủ khả năng bồi thường một lần thì sẽ bị trừ 20% tiền lương hàng tháng cho đến khi bồi thường đủ theo quyết định của người có thẩm quyền.

Tài sản bị mất mát, hư hỏng, thiệt hại do lỗi cố ý của cán bộ, công chức thì cán bộ, công chức gây mất mát, hư hỏng thiệt hại tài sản phải bồi thường toàn bộ giá trị thiệt hại gây ra. Nếu tài sản bị mất mát, hư hỏng, thiệt hại do lỗi vô ý của cán bộ, công chức thì căn cứ vào từng trường hợp cụ thể cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền quyết định mức và phương thức bồi thường. Trường hợp thiệt hại vật chất xảy ra do nguyên nhân bất khả kháng thì cán bộ, công chức liên quan không phải chịu trách nhiệm bồi thường. Cũng theo Nghị định 118, người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị sử dụng và quản lý cán bộ, công chức gây thiệt hại phải thành lập Hội đồng xử lý trách nhiệm vật chất đối với cán bộ công chức trong thời gian kết luận của cơ quan có thẩm, hạn 30 ngày làm việc kể từ ngày phát hiện cán bộ, công chức gây thiệt hại hoặc từ ngày nhận được văn bản. Cán bộ, công chức gây thiệt hại và các bộ phận chức năng của cơ quan, tổ chức, đơn vị có tài sản bị thiệt hại phải thực hiện đúng thời hạn, mức và phương thức bồi thường chỉ trong quyết định bồi thường tại kho bạc nhà nước số tiền bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật thiệt hại. Đồng thời, cơ quan, tổ chức đơn vị phải thu và nộp vào tài khoản của cơ quan, tổ chức, đơn vị. Ngoài ra còn các (Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 và Bộ luật Dân sự năm 2015).

 

4.2 Trách nhiệm hoàn trả của cán bộ, công chức

Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (Luật TNBTCNN năm 2017), có quy định về trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ được xác định là "hoản trả đầy đủ và nguyên vẹn những gì đã mượn hoặc đã vay". Một người phải thực hiện việc hoàn trả nguyên vẹn tài sản đã mượn hoặc đầy đủ số tiền đã vay theo đúng thời hạn đã thỏa thuận hoặc theo thời hạn đã ký trong hợp đồng.

Như vậy, Luật TNBTCNN đã quy định cụ thể các trường hợp cán bộ công chức phải thực hiện trách nhiệm hoàn trả hoặc không phải thực hiện trách nhiệm hoàn trả trong từng hoạt động, theo đo:

  1. Trong hoạt động quản lý hành chính, thi hành án, tố tụng hành chính và tố tụng dân sự, nếu người thi hành công vụ gây thiệt hại thì tùy vào mức độ lỗi (vô ý hoặc cố ý), mức độ thiệt hại xảy ra và điều kiện kinh tế của người thi hành công vụ, người đó sẽ phải hoàn trả một khoản tiền quyết định của Thủ trưởng cơ quan có thẩm quyền.
  2. Trong hoạt động tố tụng hình sự, chỉ trường hợp người thi hành công vụ gây thiệt hại với lỗi cố ý mới phải thực hiện CNHT.

Bên cạnh đó, luật TNBTCNN còn quy định cụ thể về trình tự, thủ tục quyết định việc hoàn trả, gồm: Thẩm quyền ra quyết định hoàn trả; khiêu nại, khởi kiện quyết định hoàn trả; hiệu lực của quyết định hoàn trả; thực hiện việc hoàn trả và quản lý, sử dụng tiền hoàn trả.

Từ nhưng phân tích ở trên, Luật Minh Khuê sẽ phân biệt về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và trách nhiệm vật chất của cán bộ công chức để bạn đọc tham khảo:

Tiêu chí Bối thường thiệt hại ngoài hợp đồng Trách nhiệm vật chất của cán bộ, công chức
Chủ thể - Áp dụng với mọi cá nhân và tổ chức, kể cả bên thiệt hại và bên bị thiệt hại - Người gây thiệt hại chỉ có thể là cán bộ, công chức, người bị thiệt hại chỉ có thể là cơ quan nhà nước, tổ chức nhà nước. Nói tóm lại đây là trách nhiệm của cán bộ, công chức nhà nước.
Thẩm quyền xử lý - Thuộc cơ quan tòa án: Việc bồi thường trong trường hợp các bên không thể tự giải quyết chỉ có thể giải quyết thông qua tài phán của Tòa án. Thuộc cơ quan nhà nước quản lý cán bộ, công chức: Xử lý theo con đường hành chính.
Lỗi Cố ý, vô ý Vô ý: Trong trường hợp gây thiệt hại do lỗi vô ý thì áp dụng quy định về bồi thường của Bộ luật dân sự 
Mức độ thiệt hại - Áp dụng cho mọi thiệt hại lớn, nhỏ xảy ra

- Chỉ áp dụng cho những thiệt hại không lớn cho nhà nước.

"Tài sản của cơ quan, tổ chức, đơn vị": là trang bị, thiết bị, máy móc, phương tiện, vật tư, nhà xưởng, trụ sở làm việc, tiền, giấy tờ có giá hoặc các tài sản khác dưới dạng tiền tệ, tài chính, phần mềm, dữ liệu.

 

Nguyên tắc bồi thường thiệt hại - Bồi thường toàn bộ thiệt hại cả trực tiếp, gián tiếp, cả vật chất lẫn tinh thần. - Chỉ bồi thường thiệt hại và việc bồi thường được hạn chế.
Phương thức bồi thường  - Bồi thường bằng tài sản riêng của người gây thiệt hại - Bồi thường một lần bằng tài sản riêng, nếu không đủ thì trừ dần vào lương
Căn cứ xử lý - Bộ luật dân sự 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành  - Pháp lệnh cán bộ, công chức và các văn bản pháp luật có liên quan

Trên đây là toàn bộ bài viết mà Luật Minh Khuê muốn cung cấp đến bạn đọc tham khảo. Nếu có thắc mắc vui lòng liên hệ tới Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự về bồi thường trách nhiệm, gọi: 1900.6162 để được chuyên viên pháp luật tư vấn trực tiếp. Xin chân thành cảm ơn!