1. Đặc điểm của bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm pháp lý phát sinh do hành vi vi phạm quy định của pháp luật gây ra tổn thất cho người khác, không phụ thuộc vào sự hiện diện của một hợp đồng cụ thể. Đây là một khía cạnh quan trọng của trách nhiệm dân sự và nó được xác định dựa trên các nguyên tắc và điều kiện cụ thể:

- Sự thiệt hại thực tế: Đây là điểm khởi đầu và là yếu tố cơ bản của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Thiệt hại có thể bao gồm tổn thất về tài sản và cảm xúc, và phải được chứng minh là có thật.

- Hành vi vi phạm pháp luật: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng phát sinh khi có hành vi vi phạm các quy định của pháp luật. Điều này có thể bao gồm vi phạm pháp luật về hình sự, hành chính, kinh tế, và những quy định khác.

- Các điều kiện phát sinh trách nhiệm: Các điều kiện để phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng bao gồm: sự tổn thất thực tế, hành vi vi phạm pháp luật, có sự cẩu thả hoặc phạm lỗi từ bên gây ra thiệt hại, và mối liên hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại.

- Bồi thường toàn bộ và kịp thời: Bên gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm bồi thường toàn bộ tổn thất một cách nhanh chóng và kịp thời. Không cần phải có sự thỏa thuận trước như trong trường hợp vi phạm hợp đồng.

Thời điểm xác định trách nhiệm bồi thường là từ khi hành vi vi phạm gây ra thiệt hại và không phụ thuộc vào việc hợp đồng nào đã tồn tại hay không. Điều này nhấn mạnh sự quan trọng của việc chấp nhận trách nhiệm cho hành vi của mình và bồi thường cho những tổn thất gây ra cho người khác.

2. Hướng dẫn thực hiện quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Hội đồng thẩm phán TAND tối cao ban hành Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

Theo đó, hướng dẫn cách xác định “thiệt hại thực tế” và nguyên tắc bồi thường thiệt hại quy định tại Điều 585 của Bộ luật Dân sự 2015.

Cụ thể, “Thiệt hại thực tế” là thiệt hại đã xảy ra theo hướng dẫn tại điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 02, được tính thành tiền tại thời điểm giải quyết bồi thường.

Trong đó bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần như sau:

- Thiệt hại về vật chất là tổn thất vật chất thực tế xác định được của chủ thể bị xâm phạm, bao gồm tổn thất về tài sản mà không khắc phục được; chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại; thu nhập thực tế bị mất hoăc bị giảm sút do tài sản, sức khỏe, tính mạng, danh sự, nhân phẩm, uy tín, quyền và lợi ích hợp khác bị xâm phạm.

- Còn thiệt hại tinh thần là tổn thất tinh thần do bị xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, quyền và lợi ích nhân thân khác mà chủ thể bị xâm phạm hoặc người thân thích của họ phải chịu và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù cấp tổn thất đó.

Thiệt hại phát sinh sau thời điểm giải quyết bồi thường lần đầu được xác định tại thời điểm giải quyết bồi thường lần tiếp theo nếu có yêu cầu của người bị thiệt hại.

3. Hướng dẫn áp dụng một số quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Ngày 06 tháng 9 năm 2022, Hội đồng Thẩm phán của Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP về hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

Theo nghị quyết này, trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh trong trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 584 của Bộ luật Dân sự 2015 xuất phát từ việc có đủ các yếu tố sau đây:

- Hành vi xâm phạm: Bồi thường thiệt hại xảy ra khi có hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác.

- Thiệt hại vật chất và tinh thần: Thiệt hại vật chất bao gồm tổn thất vật chất thực tế của chủ thể bị xâm phạm, chi phí ngăn chặn, hạn chế, khắc phục và thu nhập thực tế bị mất hoặc giảm sút do xâm phạm. Thiệt hại về tinh thần là tổn thất tinh thần do xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, quyền và lợi ích hợp pháp khác.

- Mối quan hệ nhân quả: Phải có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi xâm phạm. Thiệt hại phải là kết quả tất yếu của hành vi xâm phạm và hành vi này phải là nguyên nhân gây ra thiệt hại.

- Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một phần quan trọng của hệ thống pháp luật dân sự, đảm bảo công bằng và bảo vệ quyền lợi của người dân trong xã hội.

- Trong trường hợp tài sản gây ra thiệt hại, chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu tài sản đó phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ khi có quy định khác tại điểm 3 của Điều này.

Chủ sở hữu tài sản phải bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra, trừ khi người chiếm hữu tài sản đó được quy định chịu trách nhiệm bồi thường theo hướng dẫn tại điểm b của khoản 2 Điều này.

- Chủ sở hữu tài sản được xác định tại thời điểm tài sản gây ra thiệt hại theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp tài sản đang trong quá trình giao dịch, thì thời điểm chuyển giao quyền sở hữu sẽ được xác định để xác định chủ sở hữu tài sản gây thiệt hại.

Ví dụ: A bán căn nhà cho B, hợp đồng mua bán căn nhà đã được công chứng, B đã thanh toán 80% tiền mua nhà cho A nhưng chưa nhận nhà thì nhà bị cháy, lan sang cháy nhà của C gây thiệt hại. Theo quy định tại khoản 1 Điều 12 của Luật Nhà ở năm 2014, thời điểm chuyển giao quyền sở hữu là thời điểm bên mua đã thanh toán đủ tiền và nhận nhà, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Trong trường hợp này, B chưa thanh toán đủ tiền và chưa nhận nhà nên A vẫn là chủ sở hữu hợp pháp của căn nhà và phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho C.

- Người chiếm hữu tài sản mà không phải là chủ sở hữu phải bồi thường thiệt hại nếu họ đang nắm giữ, chi phối trực tiếp hoặc gián tiếp tài sản như chủ thể có quyền đối với tài sản tại thời điểm gây ra thiệt hại.

- Trong trường hợp thiệt hại phát sinh do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại, người gây thiệt hại, chủ sở hữu tài sản hoặc người chiếm hữu tài sản không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ khi có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

- Sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép.

Ví dụ 1: Nhà của A được xây dựng, đang sử dụng bình thường và không có dấu hiệu hư hỏng. Một cơn lốc xoáy bất chợt, không được dự báo trước đã cuốn mái nhà của A vào người đi đường gây thiệt hại. Trong trường hợp này, vì đây là sự kiện bất khả kháng, A không phải chịu trách nhiệm bồi thường.

Ví dụ 2: Có thông tin về cơn bão, A đã tiến hành các biện pháp phòng chống bão theo hướng dẫn của cơ quan chức năng địa phương. Tuy nhiên, cơn bão quá mạnh đã làm tốc mái nhà của A và gây thiệt hại cho người đi đường. Trong trường hợp này, vì đây là sự kiện bất khả kháng và A đã thực hiện các biện pháp cần thiết, A không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Xem thêm: Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là gì? Ví dụ và cách xác định

Như vậy trên đây là toàn bộ thông tin về Hướng dẫn thực hiện quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của Bộ Y tế mà Công ty Luật Minh Khuê muốn gửi đến quý khách mang tính tham khảo. Nếu quý khách còn vướng mắc về vấn đề trên hoặc mọi vấn đề pháp lý khác, quý khách hãy vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến theo số điện thoại 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp qua tổng đài kịp thời hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc.

Nếu quý khách cần báo giá dịch vụ pháp lý thì quý khách có thể gửi yêu cầu báo phí dịch vụ đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được thông tin sớm nhất! Rất mong nhận được sự hợp tác và tin tưởng của quý khách! Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn!