1. Căn cứ đóng bảo hiểm xã hội xác định thế nào ?

Luật sư cho tôi hỏi: Cho tôi hỏi tiền lương của tôi cộng cả phụ cấp( xăng xe và tiền điện thoại) hằng tháng của tôi vào là tiền lương của tôi trung bình một tháng được tầm 15 triệu đồng. Vậy luật sư cho tôi hỏi đâu là số tiền mà tôi phải đóng BHXH? Số tiền phụ cấp của tôi có phải đóng BHXH không?
Cảm ơn luật sư!

Luật sư tư vấn:

Căn cứ quy định điều 89 Luật bảo hiểm xã hội số 58/2014/QH13 của Quốc hội: Tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội:

1. Người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định thì tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội là tiền lương theo ngạch, bậc, cấp bậc quân hàm và các khoản phụ cấp chức vụ, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề (nếu có).

Người lao động quy định tại điểm i khoản 1 Điều 2 của Luật này thì tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội là mức lương cơ sở.

2. Đối với người lao động đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội là mức lương và phụ cấp lương theo quy định của pháp luật về lao động

Từ ngày 1/1/2018 trở đi, tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội là mức lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác theo quy định về luật lao động

3. Trường hợp tiền lương tháng quy định tại khoản 1 và khoản 2 điều này cao hơn 20 lần mức lương cơ sở thì tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội bằng 20 lần mức lương cơ sở.

Theo điều 21 Nghị định 05/2015/NĐ-CP hướng dẫn thi hành một số nội dung Bộ luật Lao động Tiền lương gồm:

"1. Tiền lương ghi trong hợp đồng lao động do người lao động thỏa thuận với người sử dụng lao động để thực hiện công việc nhất định, bao gồm:

a) Mức lương theo công việc hoặc chức danh là mức lương trong thang lương, bảng lương do người sử dụng lao động xây dựng theo quy định tại Điều 93 của Bộ luật Lao động. Mức lương đối với công việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động và thời giờ làm việc bình thường (không bao gồm khoản tiền trả thêm khi người lao động làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm) không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định;

b) Phụ cấp lương là khoản tiền bù đắp các yếu tố về điều kiện lao động, tính chất phức tạp của công việc, điều kiện sinh hoạt, mức độ thu hút lao động chưa được tính đến hoặc tính chưa đầy đủ trong mức lương theo công việc hoặc chức danh;

c) Các khoản bổ sung khác là khoản tiền bổ sung ngoài mức lương, phụ cấp lương và có liên quan đến thực hiện công việc hoặc chức danh trong hợp đồng lao động, trừ tiền thưởng, tiền ăn giữa ca, các khoản hỗ trợ, trợ cấp của người sử dụng lao động không liên quan đến thực hiện công việc hoặc chức danh trong hợp đồng lao động”.

Như vậy các khỏan hỗ trợ xăng xe, điện thoại, đi lại, tiền nhà ở không được coi là các khoản bổ sung khác mà được coi là các khoản mang tính chất phúc lợi của doanh nghiệp với người lao động; vì thế không căn cứ vào các khoản này để đóng bảo hiểm xã hội.

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Sử dụng người nước ngoài làm việc tại Việt Nam có phải đóng bảo hiểm xã hội không, thử việc có cần giấy phép lao động?

2. Cách xác định mức tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội ?

Ngày 06 tháng 02 năm 2018 Bộ lao động thương binh xã hội vừa ban hành Công văn số 560/LĐTBXH-BHXH xác định tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội như văn bản dưới đây. Đây là một văn bản trả lời và thể hiện quan điểm, cách áp dụng nên các công ty, doanh nghiệp có thể dựa vào hướng dẫn này để áp dụng trong tổ chức, doanh nghiệp của mình:

BỘ LAO ĐỘNG - THƯƠNG BINH
VÀ XÃ HỘI
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 560/LĐTBXH-BHXH
V/v xác định tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội

Hà Nội, ngày 06 tháng 02 năm 2018

Kính gửi: Ngân hàng Mizuho

Trả lời công văn số 1812/2017/HR ngày 18/12/2017 của Ngân hàng Mizuho về việc xác định tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội có ý kiến như sau:

Tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc được thực hiện theo quy định tại Điều 89 Luật bảo hiểm xã hội, Điều 17 Nghị định số 115/2015/NĐ-CP ngày 11/11/2015 của Chính phủ, Điều 30 Thông tư số 59/2015/TT-BLĐTBXH ngày 29/12/2015 của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội.

Theo quy định tại các văn bản nêu trên thì từ ngày 01/01/2018 trở đi, tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội là mức lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác. Tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc không bao gồm các khoản chế độ và phúc lợi khác, như tiền thưởng theo quy định tại Điều 103 Bộ luật lao động, tiền thưởng sáng kiến; tiền ăn giữa ca; các khoản hỗ trợ xăng xe, điện thoại, đi lại, tiền nhà ở, tiền giữ trẻ, nuôi con nhỏ; hỗ trợ khi người lao động có thân nhân bị chết, người lao động có người thân kết hôn, sinh nhật của người lao động, trợ cấp cho người lao động gặp hoàn cảnh khó khăn khi bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và các khoản hỗ trợ, trợ cấp khác.

Đối chiếu với quy định nêu trên thì tiền thưởng của người lao động làm việc tại Ngân hàng Mizuho (bao gồm tiền thưởng lương tháng thứ 13 và tiền thưởng theo đánh giá kết quả công việc hàng năm không làm căn cứ để tính đóng bảo hiểm xã hội.

Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội trả lời Ngân hàng Mizuho./.


Nơi nhận:
- Như trên;
- Bộ trưởng (để báo cáo);
- TT Lê Quân (để báo cáo);
- Lưu: VT, BHXH.

TL. BỘ TRƯỞNG
VỤ TRƯỞNG VỤ BẢO HIỂM XÃ HỘI




Phạm Trường Giang

>> Xem thêm:  Công ty chưa đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động thì phải đền bù thế nào khi người lao động bị tai nạn lao động?

3. Áp dụng mức lương tối thiểu như thế nào để làm căn cứ đóng Bảo hiểm xã hội ?

Thưa luật sư! Em có thắc mắc muốn nhờ anh chị tư vấn hộ em ạ. Đó là theo luật bảo hiểm thì năm nay công ty e phải tăng mức lương tối thiểu để đóng cho BH. Nhưng do công ty vẫn còn khó khăn nên vẫn đóng theo mức lương tối thiểu của năm 2019.

Nhưng bên BH lại tự động tăng luôn mức lương tối thiểu 2020 cho công ty em mặc dù em chưa làm công văn tăng lương và tính theo mức đó, Do vậy theo BH thì công ty em đang nợ BH. Vậy BH làm như vậy có đúng không ạ?

Em cảm ơn anh chị!

Trả lời:

Tại Khoản 1 Điều 90 Bộ luật lao động năm 2019(sẽ có hiệu lực vào ngày 01/01/2021) có quy định:

"Điều 90. Tiền lương

1. Tiền lương là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động theo thỏa thuận để thực hiện công việc, bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác.

2. Mức lương theo công việc hoặc chức danh không được thấp hơn mức lương tối thiểu.

3. Người sử dụng lao động phải bảo đảm trả lương bình đẳng, không phân biệt giới tính đối với người lao động làm công việc có giá trị như nhau."

Tại Khoản 2 Điều 5 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 có quy định:

" Điều 5. Nguyên tắc Bảo hiểm xã hội

2. Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc được tính trên cơ sở tiền lương tháng của người lao động. Mức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện được tính trên cơ sở mức thu nhập tháng do người lao động lựa chọn."

Trong trường hợp của bạn, mặc dù Chính phủ đã tăng mức lương tối thiểu cho người lao động nhưng công ty bạn vẫn chưa tăng mức lương tối thiểu cho người lao động của bạn, như vậy, công ty của bạn đa làm trái với các quy định của pháp luật.

Việc cơ quan Bảo hiểm nâng mức đóng bảo hiểm dựa theo mức lương tối thiểu là hoàn toàn phù hợp với các quy định của pháp luật hiện hành.

>> Xem thêm:  Công ty nợ lương và bảo hiểm xã hội cho công nhân ?

4. Phụ cấp nào làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc ?

Kính gởi Công ty luật Minh Khuê, 1. Từ 21/5/2019 tôi bắt đầu làm việc chính thức, kí hợp đồng lao động 1 năm với VPDD A tại TP. HCM. Đến tháng 20/5/2020 sau khi hợp đồng hết hạn, tôi và công ty tiếp tục thỏa thuận kí kết hợp đồng lao động mới nhưng không đạt được đồng thuận, nên từ 17/6/2020 tôi chính thức nghỉ việc. Khi thực hiện các thủ tục khi nghỉ việc, tôi nhận được sổ BHXH của mình.

2. Trước 1/1/2020, mức đóng BHXH, BHYT và BHTN của tôi chỉ bao gồm mức lương là 6.000.000 đồng. Từ ngày 1/1/2020 khi quy định mới về mức đóng BHXH, BHYT và BHTN chính thức có hiệu lực, thì A đã thông báo và tính thêm các khoản phụ cấp vào. Tổng các phụ cấp là 950.000 đồng bao gồm: phụ cấp ăn trưa, phụ cấp đi lại và phụ cấp chi phí gởi xe. Nghĩa là từ lúc đó, mức đóng của tôi bao gồm lương và phụ cấp là 6.950.000 đồng, riêng tháng 6/2016 là 7.950.000 đồng. Các khoản lương và phụ cấp được thể hiện rất rõ ràng trong bảng lương hàng tháng.

3. Trong sổ BHXH nhận được sau khi nghỉ việc, quá trình đóng BHXH thể hiện chỉ một mức duy nhất là 6.000.000 đồng trong khoảng thời gian từ 5/2019 đến 5/2020 và 7.000.000 đồng trong tháng 6/2016 nghĩa là A đã khấu trừ nhưng không nộp lại cho cơ quan BHXH khoản gồm lương và phụ cấp trong 6 tháng, từ tháng 1/2020 đến 6/2020. Tương đương là 10.5% của 950.000 đồng liên tiếp trong 6 tháng đã khấu trừ vào tổng thu nhập của tôi.

4. Bây giờ tôi phải làm như thế nào? Xin Công ty luật Minh Khuê tư vấn giúp tôi để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của mình. Chân thành cảm ơn công ty.

>> Luật sư tư vấn lao động trực tuyến, Gọi: 1900.6162

Trả lời:

Khoản 2 Điều 89 Luật bảo hiểm xã hội năm 2014 số 58/2014/QH13 quy định:

"Điều 89. Tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc
....
Người lao động quy định tại điểm i khoản 1 Điều 2 của Luật này thì tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội là mức lương cơ sở.
2. Đối với người lao động đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội là mức lương và phụ cấp lương theo quy định của pháp luật về lao động.
Từ ngày 01 tháng 01 năm 2018 trở đi, tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội là mức lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác theo quy định của pháp luật về lao động..."

Và Khoản 1 Điều 30 Thông tư 59/2015/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc quy định:

"Điều 30. Tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc
Tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội đối với người lao động đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định được quy định như sau:
1. Từ ngày 01 tháng 01 năm 2016 đến ngày 31 tháng 12 năm 2017, tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội là mức lương và phụ cấp lương theo quy định tại khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều 4 của Thông tư số 47/2015/TT-BLĐTBXH ngày 16 tháng 11 năm 2015 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện một số điều về hợp đồng lao động, kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất của Nghị định số 05/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng 01 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật lao động (sau đây được viết là Thông tư số 47/2015/TT-BLĐTBXH).
Phụ cấp lương theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 4 của Thông tư số 47/2015/TT-BLĐTBXH là các khoản phụ cấp lương để bù đắp yếu tố về điều kiện lao động, tính chất phức tạp công việc, điều kiện sinh hoạt, mức độ thu hút lao động mà mức lương thỏa thuận trong hợp đồng lao động chưa được tính đến hoặc tính chưa đầy đủ như phụ cấp chức vụ, chức danh; phụ cấp trách nhiệm; phụ cấp nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; phụ cấp thâm niên; phụ cấp khu vực; phụ cấp lưu động; phụ cấp thu hút và các phụ cấp có tính chất tương tự..."

Như vậy, thời điểm từ tháng 1/2020 tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc bao gồm mức lương và các khoản phụ cấp lương như theo quy định pháp luật trên.

Những khoản phụ cấp như phụ cấp ăn trưa, phụ cấp đi lại và phụ cấp chi phí gởi xe không phải là căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc.

Nếu công ty A đã khấu trừ tiền lương của bạn thì bạn có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước xem xét và giải quyết cho mình.

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Người lao động xin không đóng bảo hiểm xã hội ?

5. Dựa vào đây để căn cứ để đóng tiền Bảo hiểm xã hội ?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi như sau: Tôi làm trong công ty cổ phần, nhà nước nắm giữ 70% vốn điều lệ. Trong công ty tôi có các phụ cấp ban kiểm soát, hội đồng quản trị, phụ cấp đảng, công đoàn. Vậy những khoản phụ cấp này có làm căn cứ để đóng Bảo hiểm xã hội được không?

Xin cám ơn Luật sư!

Người gửi: Tuanely.

>> Tư vấn pháp luật bảo hiểm trực tuyến gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới thư mục tư vấn của công ty chúng tôi, với câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

Khoản 2 điều 5 Luật bảo hiểm xã hội năm 2014 quy định:

"Điều 5. Nguyên tắc bảo hiểm xã hội

1. Mức hưởng bảo hiểm xã hội được tính trên cơ sở mức đóng, thời gian đóng bảo hiểm xã hội và có chia sẻ giữa những người tham gia bảo hiểm xã hội.

2. Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc được tính trên cơ sở tiền lương tháng của người lao động. Mức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện được tính trên cơ sở mức thu nhập tháng do người lao động lựa chọn.

3. Người lao động vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện được hưởng chế độ hưu trí và chế độ tử tuất trên cơ sở thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội. Thời gian đóng bảo hiểm xã hội đã được tính hưởng bảo hiểm xã hội một lần thì không tính vào thời gian làm cơ sở tính hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội.

4. Quỹ bảo hiểm xã hội được quản lý tập trung, thống nhất, công khai, minh bạch; được sử dụng đúng mục đích và được hạch toán độc lập theo các quỹ thành phần, các nhóm đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định và chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định.

5. Việc thực hiện bảo hiểm xã hội phải đơn giản, dễ dàng, thuận tiện, bảo đảm kịp thời và đầy đủ quyền lợi của người tham gia bảo hiểm xã hội.

Điều 90 Bộ luật lao động năm 2019 (sẽ có hiệu lực từ 01/01/2021) quy định:

"Điều 90. Tiền lương

1. Tiền lương là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động theo thỏa thuận để thực hiện công việc, bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác.

2. Mức lương theo công việc hoặc chức danh không được thấp hơn mức lương tối thiểu.

3. Người sử dụng lao động phải bảo đảm trả lương bình đẳng, không phân biệt giới tính đối với người lao động làm công việc có giá trị như nhau."

Như vậy, căn cứ vào các quy định trên thì những khoản phụ cấp này là căn cứ để đóng bảo hiểm xã hội.

>> Xem thêm:  Người lao động không nộp sổ BHXH ?

>> Tham khảo bài viết liên quan: Tư vấn mức đóng và căn cứ đóng BHXH theo quy định của luật mới ?

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn Pháp luật Lao động - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Xin ra khỏi ngành công an nhân dân thì có được hưởng trợ cấp thất nghiệp khi đã tham gia đóng bảo hiểm xã hội được 15 năm ?